Mô hình nuôi tôm tiên tiến này áp dụng quy trình quản lý theo 3 giai đoạn phát triển của tôm (Ương, Giai đoạn 2 và Thương phẩm) với hệ thống ao nuôi chuyên biệt tương ứng cho từng bước. Điểm cốt lõi là tôm được chuyển sang ao mới sau mỗi giai đoạn, đảm bảo môi trường sống luôn tối ưu để tôm phát triển tốt nhất. Đồng thời, mô hình tích hợp hệ thống xử lý nước đầu vào và nước thải chuyên biệt, giúp duy trì chất lượng nước cao xuyên suốt quá trình nuôi và giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.
- Giai đoạn 1 (ương): 18-20 ngày
Trong giai đoạn này, tôm mới ở giai đoạn postlarvae cỡ 8 – 10 ngày tuổi (PL8 hoặc PL10). Tôm được nuôi trong ao ương với diện tích khoảng 50 – 200m2, hình vuông hoặc tròn, lót bạt HDPE toàn bộ, có mái che. Quanh ao đều được bố trí hệ thống sục khí. Thức ăn của tôm phải nhỏ, chất lượng tốt để tôm dễ tiêu hóa.
Giai đoạn này được coi là cốt lõi vì tôm còn rất nhỏ, nhạy cảm với các yếu tố môi trường bất lợi và dễ bị nhiễm bệnh. Việc cấp thiết nhất trong giai đoạn này là hạn chế tối đa dịch bệnh cho tôm.
– Nước đầu vào phải thật sạch, cần diệt khuẩn sạch sẽ các thiết bị lắp ráp trong ao nuôi.
– Cần bổ sung khoáng chất, men tiêu hóa, vitamin, acid amin cần thiết vào khẩu phần ăn của tôm. Việc này giúp tôm tăng sức đề kháng, chống lại các tác động xấu từ môi trường bên ngoài.
– Không nên cho ăn quá nhiều vừa làm dư thừa, ô nhiễm nước, tránh tạo môi trường kém làm tôm nhiễm bệnh.
– Khi chuyển sang giai đoạn 2 cần đảm bảo chất lượng nước tương đồng gần với ao ương. Trước khi bước vào giai đoạn 2 hoàn toàn cần cho tôm thử nước trước.
- Giai đoạn 2 (khoảng 30 ngày)
Bắt đầu giai đoạn này, tôm đạt trọng lượng và kích thước lớn hơn. Tôm được chuyển sang ao nuôi to hơn với diện tích khoảng 200 – 300m2. Thức ăn cung cấp cho tôm cũng có kích thước lớn hơn.
– Ở giai đoạn này, cần tập trung vào các yếu tố môi trường, dinh dưỡng và quản lý dịch bệnh. Vì đây là giai đoạn tôm sinh trưởng mạnh mẽ nhất.
– Có thể sử dụng các chế phẩm vitamin, men vi sinh, khoáng chất bổ sung để kích thích tăng trưởng, tăng cường miễn dịch và phòng dịch bệnh cho tôm.
– Giai đoạn này, tôm thường bị mắc bệnh phân trắng, bệnh gan tụy và ký sinh trùng. Nên cần phòng trị bệnh triệt để. Tôm giai đoạn 2 phát triển tốt thì giai đoạn thu hoạch mới đạt được hiệu suất cao.
– Lượng thức ăn cần được tính toán dựa theo trọng lượng của tôm.
– Cần kiểm tra thường xuyên môi trường và dịch bệnh để có biện pháp đề phòng và xử lý kịp thời.
- Giai đoạn thương phẩm
Thời điểm bắt đầu của giai đoạn 3, tôm đạt trọng lượng 20 – 25 g và kết thúc khi thu hoạch. Tôm được nuôi trong bể lớn với diện tích khoảng 500 – 1500m2. Thức ăn và điều kiện được chuẩn bị tốt nhất để tôm đạt trọng lượng thương phẩm.
– Người nuôi cần tập trung vào việc quản lý thức ăn và xử lý môi trường.
– Có thể sử dụng một số chế phẩm như vi sinh xử lý môi trường. Kết hợp siphon đáy ao định kỳ, đảm bảo môi trường lý tưởng cho tôm phát triển tốt.
– Lượng thức ăn cần phù hợp với trọng lượng và mật độ tôm. Không nên cho tôm ăn quá nhiều dễ gây ra khí độc, ô nhiễm môi trường nước. Cho tôm ăn quá nhiều còn làm tăng hệ số thức ăn và giảm hiệu quả kinh tế./.
Phú Hòa