Họ Cá lóc (tên khác: Cá chuối, Cá quả, Cá sộp, Cá xộp, Cá trầu, Cá trõn, Cá đô, tùy theo từng vùng) là các loài cá thuộc họ Channidae. Họ này có 2 chi còn loài sinh tồn là Channa hiện biết 39 loài, Parachanna hiện biết có 3 loài ở châu Phi. Ở Việt Nam chủ yếu là Channa maculata và Channa argus (hay còn gọi là Ophiocephalus argus tức cá quả Trung Quốc).
1.Chuẩn bị ao nuôi
Diện tích ao nên bố trí diện tích từ 500 – 3.000 m2 để thuận tiện cho việc quản lý và chăm sóc.
Địa điểm xây dựng ao phải đảm bảo các điều kiện như: Chủ động nguồn nước cấp, không gây ô nhiễm. Ao nuôi thoáng mát, không bị cớm rợp, tránh trồng những cây cổ thụ, lâu năm xung quang ao làm rụng lá xuống ao nuôi gây ô nhiễm đáy và môi trường ao nuôi.
Ao nuôi nên thiết kế hình vuông hoặc hình chữ nhật, bo tròn các góc. Cống cấp và cống thoát được bố trí hai phía đối diện nhau. Đáy ao bằng phẳng hơi dốc về phía cống thoát, cống cấp cách đáy 0,8 -1 m, cống thoát nước nằm sát đáy ao.
Mức nước phải đảm bảo độ sâu từ 1,5 – 2,0 m. Bờ ao phải cao hơn mặt nước cao nhất trong ao ít nhất là 0,5 m. Bờ ao rộng và kiên cố không rò rỉ nước. Nguồn nước cấp vào phải chủ động, không bị ô nhiễm. Chất đất xây dựng ao nuôi là thịt pha cát, đất thịt pha sét là tốt nhất.
Các thông số môi trường nuôi cơ bản đảm bảo cho sinh trưởng và phát triển của cá như: pH từ 6,5 – 8,5; nhiệt độ nước 20 – 320C.
- Xử lý ao nuôi
Tát cạn ao, nạo vét bùn đáy, lấp các hang hốc, rải vôi CaO, từ 200 – 100 kg/1000 m2 (tùy theo pH đất).
|
pH đất
|
Đặc tính đất
|
Yêu cầu bón vôi CaCO3 (kg/ha)
|
|
4.0 – 4,5
|
Có tính axit cao
|
1000
|
|
4,5 – 5,5
|
Có tính axit trung bình
|
700
|
|
5,5, – 6,5
|
Có tính axit nhẹ
|
500
|
|
6,5 – 7,5
|
Gần trung tính
|
200
|
Phơi đáy ao từ 5-7 ngày. Sau đó cấp nước vào đầy ao nuôi đạt độ sâu l,5-l,8 m rồi xử lý nước bằng thuốc tím KMnO4 từ 2 – 4 kg/1000 m3.
Sau 2 ngày tiến hành gây màu nước bằng cách bón phân DAP hoặc NPK với liều lượng l – 2 kg/1000 m3 hòa tan tạt vào ao lúc 8h sáng liên tục trong 2-3 ngày đến khi nước có màu xanh đọt chuối, độ trong 30 – 40 cm, pH: 6,5 – 8,5 thì đạt yêu cầu. Cần đặt các vật như ống nhựa… để cá trú ẩn.
- Thời vụ nuôi, chọn và thả giống:
3.1 Thời vụ nuôi:
Theo lịch thời vụ của Sở Nông nghiệp và Môi trường hàng năm. Nên tranh thủ thả sớm, thả từ tháng 3 – 5 (Dương lịch).
3.2. Chọn giống:
Chọn cá giống khỏe mạnh, da bóng, nhiều nhớt, không bệnh tật, kích cỡ đồng đều. Tốt nhất là chọn giống tại các Trại giống, cơ sở sản xuất giống có uy tín, chuyên ương cá giống để đảm bảo chất lượng, giảm hao hụt và đạt tỷ lệ sống cao.
3.3. Thả giống
– Đối với nuôi ao: Mật độ thả từ 30-40 con/m2, kích cỡ cá thả từ ≥ 8 cm/con.
– Đối với nuôi bề: Mật độ thả 50 – 60 con/m2, kích cỡ giống thả ≥ 8 cm/con.
Cách thả: Cá giống được thả vào sáng sớm hoặc chiều mát, thả từ từ để cá thích nghi với môi trường ao, bể nuôi. Trước khi thả tắm cho cá bằng dung dịch nước muối 2 – 30/0 trong thời gian 5 – 10 phút.
- Chăm sóc quản lý
4.1. Chăm sóc
Có thể sử dụng 3 loại: Thức ăn tươi sống, thức ăn tự chế và thức ăn công nghiệp. Cho ăn theo nguyên tắc 4 định: Định chất, định lượng, định thời gian, định địa điểm.
Định chất: Thức ăn có đủ độ đạm cần thiết. Nếu dùng thức ăn cá tạp phải còn tươi nên sử dụng cá rô phi, hoặc cá biển là tốt nhất. Cá được sơ chế sạch, sau đó cắt vừa kích cỡ miệng cá từng giai đoạn mới đem cho ăn. Thức ăn công nghiệp nuôi cá Lóc có hàm lượng đạm cao từ >35%.
Thức ăn tự chế có thành phần nguyên liệu gồm: Bột cá, bột đậu nành, bột mỳ, bột cám gạo,… Trong đó tỷ lệ các nguyên liệu được chia như sau:
Bảng thành phần nguyên liệu chế biến thức ăn hỗn hợp
|
STT
|
Thành phần nguyên liệu
|
Tỷ lệ % (Tổng 100%)
|
|
1
|
Bột cá
|
47
|
|
2
|
Bột đậu nành
|
22
|
|
3
|
Bột mỳ
|
14
|
|
4
|
Bột cám gạo
|
8
|
|
5
|
Dầu cá
|
5
|
|
6
|
Premix khoáng
|
2
|
|
7
|
Premix vitamin
|
2
|
Phương pháp chế biến:
Thức ăn hỗn hợp được chế biến theo các bước sau:
Bước 1: Cân nguyên liệu – Nguyên liệu được dùng để chế biến làm thức ăn cho cá phải đảm bảo chất lượng, không ôi thiu, đặc biệt là không được mốc. Dùng cân đồng hồ để cân nguyên liệu, khi cân phải có độ chính xác cao để đảm bảo thành phần đạm trong thức ăn sau khi chế biến.
Bước 2: Phối trộn các nguyên liệu: Bột cá, bột đậu nành, bột mỳ, bột cám gạo được trộn đều.
Bước 3: Gia nhiệt các nguyên liệu tiến hành trong bước 2 được đem vào nấu chín.
Bước 4: Tạo viên ẩm, nguyên liệu sau khi được nấu chín, để nguội rồi tiến hành cho Dầu cá, Premix khoáng, VitaminC trộn đều và đưa vào máy đùn thức ăn để tạo viên.
Bước 5: Bảo quản lạnh – Thức ăn ẩm hỗ hợp sau khi được chế biến có thể bảo quản bằng tủ bảo ôn, tủ lạnh trong khoảng 5 – 7 ngày cho cá ăn dần.
Định lượng: Thức ăn tươi sống và tự chế mỗi ngày cho ăn 5 – 15% tổng khối lượng cá trong ao. Thức ăn công nghiệp cho theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Yêu cầu thức ăn thả xuống sau 20 – 30 phút cá phải ăn hết.
Định thời gian: Tháng đầu cho cá ăn 3 lần/ngày (sáng, trưa, chiều). Từ tháng thứ hai trở đi, cho ăn 2 lần/ngày. Cho ăn vào lúc 7- 8 giờ sáng và 4 – 5 giờ chiều. Thức ăn công nghiệp trước khi cho cá ăn cần 5 – 10 phút trộn đều với nước theo tỷ lệ 1kg thức ăn +1,5 lít nước sau đó được đánh trộn đều và cho cá ăn ngay trên khay sàng ăn nổi.
Định địa điểm: Phải cố định vị trí đặt sàng cho ăn. Sàng cho cá ăn là khung hình vuông hoặc hình tròn có kích thước khoảng 1m2 căng lưới nilon, mắt lưới to nhỏ phụ thuộc vào kích cỡ cá. Nên đặt sàng ăn ở chỗ tối, kín gió. Đối với thức ăn cá tạp nên đặt sàng ăn chìm sát đáy ao; còn sàng ăn sử dụng thức ăn công nghiệp nổi trên bề mặt nước.
Tùy theo kích cỡ cá mà chọn loại thức ăn có kích cỡ cho phù hợp. Khi cho cá ăn, dùng cây gõ vào cầu tạo tiếng động cho cá gom lại. Nếu cá giống chưa quen thức ăn công nghiệp thì phải tập cho cá chuyển từ từ bằng thức ăn cá tạp sang thức ăn công nghiệp, bằng cách:
Thức ăn là cá tạp còn tươi rửa sạch xay nhuyễn, mỗi lần cho ăn trộn vào 2 – 3% thức ăn công nghiệp, để nguyên cục bỏ trên sàng, cá tự động lại rỉa ăn. Cứ mỗi lần cho cá ăn thức ăn công nghiệp tăng dần lên, khoảng 10 – 15 ngày cá đã quen với thức ăn công nghiệp thì chuyển hẳn sang cho ăn thức ăn công nghiệp.
Khi cho ăn, cần trộn thêm men tiêu hóa đường ruột và Vitamin C giúp cá mau tiêu hóa và tăng sức đề kháng.
Chú ý: Khi thả cá giống được 20 ngày trở đi mới tập cho cá ăn thức ăn công nghiệp, không nên tập sớm quá làm cá dễ bị mất sức.
4.2. Quản lý
Ao nuôi cá Lóc công nghiệp mật độ dày cần lắp đặt hệ thống oxy tầng đáy và máy quạt nước giúp cho Oxy phân phối đều trong các tầng nước. Trước khi cho cá ăn, nên mở sục khí đề phòng thiếu Oxy cục bộ do cá tập trung ăn tại một chỗ.
Ao nuôi trong ao nước tĩnh, mật độ thưa định kỳ cần thay 10% lượng nước trong ao/1 tuần từ tháng thứ 3 – 4 trở đi và 20 – 30% ở tháng thứ 5 – 6. Nên thay nước vào lúc trời mát. Khi có mưa to hoặc trời nắng nóng cần giảm ½ lượng thức ăn. Định kỳ 1 tháng/lần diệt khuẩn định kỳ bằng thuốc tím 1,5 kg/1.000 m3 và 10 – 15 ngày/lần tạt nước vôi sống 15 – 20 kg/1.000 m3 để khống chế mật độ tảo và ổn định chất lượng nước.
Do cá ăn thức ăn chủ yếu là thức ăn tươi hoặc thức ăn công nghiệp, lượng thức ăn hòa tan dư thừa làm cho nguồn nước ô nhiễm là điều không thể tránh khỏi. Vì vậy, trong quá trình nuôi định kỳ sử dụng men vi sinh để phân hủy và làm sạch nền đáy ao nuôi góp phần phòng bệnh cho cá nuôi và quản lý được chất lượng nguồn nước.
- Phòng và trị một số bệnh thường gặp
5.1. Phòng bệnh tổng hợp
Trong quá trình nuôi cần áp dụng các biện pháp phòng bệnh tổng hợp:
– Làm sạch môi trường nuôi:
+ Nguồn nước lấy vào nuôi phải sạch.
+ Trước khi thả phải cải tạo ao, xử lý bể đúng quy trình kỹ thuật.
+ Trong quá trình nuôi nên dùng một số chế phẩm sinh học để bón định kỳ.
– Tăng sức đề kháng cho cá:
+ Chọn giống phải khoẻ mạnh, kích cỡ đồng đều, không dị hình, dị tật.
+ Thường xuyên bổ sung VitaminC và khoáng chất cho cá nuôi.
+ Tránh không làm cá bị sốc.
– Ngăn ngừa bệnh:
+ Chọn con giống đã qua kiểm dịch.
+ Định kỳ dùng vôi rải quanh bờ và hòa nước vôi tạt xuống ao và bể nuôi với liều lượng 1 – 2 kg/100 m3 nước .
5.2. Một số bệnh thường gặp
5.2.1. Bệnh trắng da
– Dấu hiệu: Cá thường nổi trên mặt nước, bơi lờ đờ, chậm chạp. Trên thân có những vệt trắng, da bị loét.
– Điều trị: Dùng Tetracyclin để tắm cho cá với liều lượng 250 mg/10lít nước trong 20 – 30 phút. Trộn thuốc Oxytetracyclin liều lượng 3 – 5g/kg thức ăn.
5.2.2. Bệnh trùng quả dưa
– Dấu hiệu: Trên thân cá có đốm trắng to nhỏ như đầu ghim. Những chấm này khi vỡ tung ra các ấu trùng vào trong nước. Những chỗ vỡ tạo thành các vết loét trên thân cá tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể cá.
– Điều trị: Tắm cho cá bằng Xanh methylen liều lượng 1g/m3 liên tục trong 3 – 4 ngày hoặc dùng formalin 25 – 30 ml/m3 trong 7 – 8 ngày, ngoài ra có thể dùng nước muối tắm cho cá với nồng độ 5 – 7‰.
5.2.3. Bệnh do nấm thủy mi
– Dấu hiệu: Trên thân cá có những búi trắng đó là những sợi nấm bám vào cá phát triển nên khi cá bị viêm loét thì nấm sẽ phát triển nhanh, cá hay bơi cọ sát vào thành bể.
– Phòng trị: Ngâm trong nước muối có nồng độ 5% trong 10 phút, sau đó thả cá vào bể nước sạch.
5.2.4. Bệnh mất nhớt
Nguyên nhân và triệu trứng: Bệnh dễ xuất hiện khi cá bị xây xát, bị sốc do vận chuyển, đánh bắt hoặc do thay đổi môi trường đột ngột. Cá bị bệnh trên bề mặt da có một lớp nhớt dày bao phủ, cá bơi lội yếu ớt, tấp mé, cá kém ăn hoặc bỏ ăn.
Phòng bệnh: Đánh bắt nhẹ nhàng, không làm cho cá bị xây xát, vận chuyển cá vào lúc trời mát, trước những cơn mưa to nên tạt vôi CaCO3 hoặc Dolomite với liều 7-10 kg /100 m3 nước để ổn định môi trường.
Trị bệnh: Dùng formol 20 – 25 ml/m3 nước, sau 24 giờ thay 1/2 lượng nước rồi dùng lặp lại thuốc với liều lượng trên một lần nữa.
5.2.5.Bệnh lở loét (hội chứng lở loét)
Nguyên nhân: Do nhiều nguyên nhân kết hợp như: Virus, vi khuẩn, nấm nội Aphanomyces, nấm thủy mi, ký sinh trùng…
Triệu chứng: Cá ít ăn hoặc bỏ ăn, bơi lội chậm chạp, da cá nhợt nhạt và xuất hiện các vết loét dần lan rộng có thể ăn sâu đến xương, cơ quan nội tạng hầu như không tổn thương.
Phòng bệnh: Giữ môi trường nuôi luôn sạch, định kỳ diệt khuẩn bằng một số thuốc, hóa chất như: Virkon A, thuốc tím, Iodine.
Trị bệnh: Dùng kháng sinh Osamet Fish, Hadaclean với liều 5 – 10 g/kg thức ăn, dùng liên tục từ 5 – 7 ngày.
- Thu hoạch
Sau khoảng thời gian 5-6 tháng nuôi (tùy vào kích cỡ giống thả)…, cá đạt kích cỡ thương phẩm đạt từ 0,5 kg/con trở lên và nhu cầu thị trường thì tiến hành thu hoạch.
Trước khi thu hoặc cần chuẩn bị các dụng cụ: Lưới kéo cá, giai, thùng chứa cá, vợt bắt cá,…
Nếu trong quá trình nuôi có sử dụng kháng sinh để trị bệnh thì phải đảm bảo thời gian cách ly theo quy định (15 – 20 ngày tùy loại thuốc). Ngừng cho ăn trước khi thu hoạch 01 ngày để đảm bảo sức khỏe cá trong quá trình vận chuyển.
Có thể tiến hành thu tỉa hoặc thu toàn bộ:
– Nếu thu toàn bộ: Cần tháo nước xuống còn 40 – 60 cm, dùng lưới kéo 2 – 3 lần trước khi xả cạn bắt toàn bộ.
– Nếu thu tỉa: Tùy thuộc vào nhu cầu thị trường, chọn những con đạt tiêu chuẩn để tiến hành thu hoạch./.
Quế Hà
Kỹ thuật nuôi