Qua kết quả giám sát dịch bệnh thủy sản tại một số vùng nuôi tôm trong thời gian qua, cơ quan chuyên môn đã phát hiện 01 số mẫu tôm xét nghiệm dương tính với vi bào tử trùng Enterocytozoon hepatopenaei (EHP). Bệnh do EHP là bệnh ký sinh trùng nội bào, đến nay chưa có thuốc điều trị, sử dụng kháng sinh để phòng và trị bệnh không mang lại hiệu quả; việc lạm dụng kháng sinh làm cho tôm chậm lớn và gây ra hiện tượng kháng kháng sinh. Bệnh do EHP có tốc độ lây lan nhanh theo đường truyền dọc (từ mẹ sang con) và truyền ngang do tiếp xúc với các cá thể bệnh trong quần đàn, do môi trường có mầm bệnh hoặc do ăn thức ăn tươi sống có mầm bệnh hoặc do các vật chủ trung gian (giáp xác, giun nhiều tơ,…).

Để phòng, chống dịch bệnh Vi bào từ trùng cần thực hiện một số biện pháp sau:
– Theo dõi chặt chẽ tình hình sức khỏe của tôm nuôi. Hạn chế thay nước trong ao nuôi phát hiện mầm bệnh, bố trí ao để chứa nước nếu xả nước ra; đồng thời có biện pháp tránh phát tán tôm nuôi ra ngoài môi trường làm lây lan dịch bệnh.
– Chủ động áp dụng các biện pháp phòng bệnh:
+ Xử lý ao sau mỗi vụ nuôi: Toàn bộ bùn đáy ao, chất thải trong quá trình nuôi phải được thu gom, đưa ra ngoài khu vực nuôi để phơi khô. Đáy ao đất sau mỗi vụ nuôi phải được phơi khô nứt chân chim (đối với ao không nhiễm phèn) trước khi thực hiện cải tạo đáy ao cho vụ nuôi tiếp theo. Đối với ao phủ bạt, rửa sạch bằng nước ngọt, phơi khô và khử trùng bằng nước vôi hoặc hóa chất.
+ Cải tạo đáy ao: sử dụng vôi bột (CaO) rắc đều một lớp dưới đáy ao, sau đó cho nước vào ngâm, duy trì độ pH khoảng 11-12 (để tiêu diệt EHP còn sót lại trong đáy ao) trong khoảng 5 ngày trước khi điều chỉnh lại pH ao nuôi cho phù hợp với hướng dẫn kỹ thuật nuôi tôm.
+ Xử lý nước ao nuôi: Các cơ sở thực hiện lấy nước qua hệ thống túi lọc để loại bỏ một số loài trung gian truyền bệnh cũng như ngăn chặn các loài thủy sản khác xâm nhập vào cơ sở. Nước trong ao xử lý/ chứa lắng phải được khử trùng bằng Chlorine nồng độ từ 15-30ppm hoặc bằng các hóa chất khác tương đương/ biện pháp phù hợp khác để diệt EHP và các tác nhân gây bệnh cũng như loại thủy sản khác.
+ Con giống: Chọn con giống khỏe mạnh, đã được kiểm dịch và có thực hiện xét nghiệm đảm bảo không nhiễm EHP cũng như các tác nhân gây bệnh nguy hiểm khác để thả nuôi.
+ Trong quá trình nuôi, không sử dụng thức ăn tuơi sống không có nguồn gốc rõ ràng và phải đuợc xét nghiệm bệnh do EHP truớc khi sử dụng; đồng thời áp dụng các biện pháp an toàn sinh học để quản lý ao tôm như: hạn chế cho nguời lạ vào khu vực nuôi, thực hiện khử trùng dụng cụ ngay sau khi sử dụng; nguồn nuớc nuôi (thay mới hoặc bổ sung vào ao nuôi) phải đuợc khử trùng; bờ ao phải đuợc quây luới chắn giáp xác và có biện pháp xua đuổi chim cò tự nhiên; cơ sở nuôi tuyệt đối không thực hiện san thua tôm từ ao bệnh sang ao khác trong toàn bộ quá trình nuôi để tránh làm lây nhiễm bệnh từ ao này sang ao khác.
– Khi phát hiện tôm chết bất thuờng hoặc có biểu hiện chậm lớn khoảng 25 ngày sau thả nuôi, chủ cơ sở thực hiện khai báo với chính quyền địa phương để đuợc kiểm tra xác định nguyên nhân và huớng dẫn thực hiện các biện pháp xử lý theo quy định.
– Xử lý ổ dịch phải đảm bảo: Toàn bộ dụng cụ, phuơng tiện chứa đụng, vận chuyển, bể nuôi,., phải đuợc khử trùng bằng chất sát trùng và phuơng pháp phù hợp; nuớc trong ao bệnh phải đuợc xử lý bằng Chlorine nồng độ 30ppm, ngâm trong 7 ngày truớc khi xả ra ngoài môi truờng; các chất cặn bã, bùn đáy ao,., trong quá trình nuôi phải đuợc thu gom và xử lý tại khu vực riêng./.
Trương Huy Dũng