GIỚI THIỆU VỀ CÁ CHIM VÂY VÀNG
- Đặc điểm phân loại
Ngành: Vertebrata
Lớp: Osteichthyes
Bộ: Perciformes
Họ: Carangidae
Giống: Trachinotus
Loài: Trachinotus falcatus
Tên tiếng Việt: cá chim vây vàng, cá sòng mũi hếch
Tên tiếng Anh: snub – nose pompano
- Đặc điểm hình thái và nhận dạng
Cơ thể hơi tròn, cao và mặt bên dẹp chính giữa lưng hình vòng cung. Vây lưng I, V – VI. I.19 – 20. Vòng mông II, I. 17 – 18, vây ngực 19, vây bụng 15, vây đuôi 17. Trên đường bên vẩy sắp xếp khoảng 135 – 136 cái, chiều dài so với chiều cao 1,6 – 1,7 lần, so với chiều dài đầu 3,5 – 4 lần, cuống đuôi ngắn và dẹp, đầu nhỏ chiều cao đầu lớn hơn chiều dài. Xương ở chính giữa bề lưng của đầu rõ ràng, chiều dài của đầu so với môi dài 5,1 – 6,2 lần, so với đường kính mắt 3,9 – 4,3 lần, môi tù phía trước hình cắt cụt đường kính mắt dài hơn môi 1,2 – 1,6 lần. Mắt vị trí về phía trước nhỏ, màng mỡ mắt không phát triển, lỗ mũi môi bên 2 cái gần nhau, lỗ mũi trước nhỏ hình tròn, lỗ mũi sau to hình bầu dục. Miệng nhỏ xiên, xương hàm trên lồi ra, đoạn sau của xương hàm trên lồi ra, hàm trên và hàm dưới có răng nhỏ hình lông, răng phía sau dần thoái hoá, lưỡi không có răng rìa phía trước xương nắp mang hình cung tương đối to, rìa sau cong. Xương nắp mang phía sau trơn, màng nắp mang tách rời, tia mang 8 – 9 cây tia mang ngắn, sắp xếp thưa 5 + 7 – 8 đoạn cuối của tia mang phía trên và dưới có một số thoái hoá, bộ phận đầu không có vảy, cơ thể có nhiều vảy tròn nhỏ dính vào dưới da. Vây lưng thứ 2 và vây hậu môn có vẩy, phía trước đường bên hình cung cong tròn tương đối lớn, trên đường bên vảy không có gờ, vây lưng thứ 1 hướng về phía trước gai bằng và 5 – 6 gai ngắn. Cá giống giữa các gai có màng liền nhau, cá trưởng thành màng thoái hoá thành những gai tách rời nhau, vây lưng thứ 2 có 1 gai và 19 – 20 tia vây, phần trước của vây kéo dài hình như lưỡi liềm. Tia vây dài nhất gấp chiều dài của đầu 1,2 – 1,3 lần, vây hậu môn có 1 gai và 17 – 18 tia vây, phía trước có 2 gai ngắn, vây hậu môn và vây lưng thứ 2 hình dạng như nhau, trong đó tia vây dài nhất gấp 1,1 – 1,2 chiều dài của đầu. Vây ngực tương đối ngắn, ngắn hơn chiều dài của đầu, vây đuôi hình trăng lưỡi liềm. Ruột uốn cong 3 lần (Chiều dài ruột/ chiều dài của cá là 0,8). Xương sống 10 + 14, lưng màu tro bạc, bụng màu ánh bạc, mình không có vân đen, vây lưng màu ánh bạc vàng, rìa vây màu tro đen, vây hậu môn màu ánh bạc vàng, vây đuôi màu vàng tro.
- Tập tính sống
Cá Chim vây vàng là loài cá nước ấm sống ở tầng giữa, tầng trên và là loài cá hồi lưu. Ở giai đoạn cá giống hàng năm sau mùa đông thường sống ở vùng vịnh cửa sông, thường sống theo đàn. Cá trưởng thành bơi ra vùng biển sâu, nhiệt độ thích hợp 16 – 360C, sinh trưởng tốt nhất 22 – 280C, là loài cá thuộc loại rộng muối, phạm vi thích hợp từ 3 – 33‰ dưới 20‰ cá sinh trưởng nhanh, trong điều kiện độ mặn cao tốc độ sinh trưởng của cá chậm. Khả năng chịu đựng nhiệt độ tương đối kém, ban đêm không ngừng bơi nhanh. Hằng năm cuối tháng 12 đến đầu tháng 3 năm sau là thời kỳ qua đông cá không ăn thức ăn, thông thường nhiệt độ thấp dưới 160C cá Chim vây vàng ngừng bắt mồi, nhiệt độ thấp nhất mà cá chịu đựng là 140C nếu hai ngày nhiệt độ dưới 140C cá sẽ chết. Oxy hòa tan < 2,5 mg/lít cá sẽ chết. Nhiệt độ nước phù hợp cho cá chim vây vàng dao động trong khoảng 24 – 28°C, trong đó ở 27°C là nhiệt độ tối ưu để cá sinh trưởng và đạt tỷ lệ sống cao nhất. Dưới ngưỡng nhiệt độ 12°C, cá chim vây vàng hoạt động kém và bị chết; ở độ mặn lớn hơn 33°C, cá chết hoàn toàn trong một vài ngày. Các nghiên cứu của Moe và cs (1968) cho thấy, cá chim giống có khả năng chịu được độ mặn thấp (2‰) và cao đến 45‰, cá bắt đầu bị stress ở nhiệt độ 12oC và độ mặn 33‰, ở nhiệt độ 10oC và độ mặn 33‰ cá chết hoàn toàn. Theo Potonetal (1989) cá trưởng thành sống ở vùng cát hoặc gần vùng rạn san hô, độ sâu ít nhất 7 m. Ngoài ra cá giống thường thấy sống ở vùng cát hoặc gần vùng đất cát sét .
- KỸ THUẬT NUÔI THƯƠNG PHẨM CÁ CHIM VÂY VÀNG TRONG AO NƯỚC LỢ. 1. Lựa chọn địa điểm nuôi
– Địa điểm nuôi có hệ thống giao thông, điện thuận lợi; xa vùng dân cư, đô thị, khu công nghiệp, bệnh viện…hệ thống cấp thoát nước riêng biệt; chất đất: sét, sét pha cát (giữ được nước ao)
Nguồn nước: cần có nguồn nước tốt và đầy đủ quanh năm, thông số về lý hoá như sau:
- pH: 5 – 8.5 (Tối ưu 7.2 – 8.2);
- Hàm lượng ô xy hòa tan DO: ≥ 5 mg/l;
- S0/00: 10 – 300/00 (Tối ưu 15 – 250/00);
- Nhiệt độ: 20 – 32oC (Tối ưu 27 – 30oC);
- Độ kiềm: > 100mg CaCO3/l
- Độc tố Ammonia N-NH3: < 0,03 mg/l;
- Độc tố Nitrite N-NO2: < 0,2 mg/l;
- Độ trong: 40 – 60 cm.
Thuỷ triều: Vùng nuôi nên có biên độ triều từ 2 – 3 m, để có thể thay tháo nước dễ dàng, tránh nơi có độ phèn cao
Ngoài ra, những yếu tố khác cũng cần được xem xét như khả năng về giống, lao động, trợ giúp kỹ thuật, thị trường và điều kiện xã hội.
- Thiết kế xây dựng ao
Ao nuôi thường có dạng hình chữ nhật, diện tích từ 2.000 m2 đến 5.000 m2, sâu 1.5 – 1.8 m, cống cấp và cống thoát riêng, đáy dốc về phía cống thoát;
Hình thức nuôi: hiện nay chủ yếu là nuôi đơn (hình thức nuôi một đối tượng) hệ thống nuôi này có một điểm bất lợi là nó hoàn toàn phụ thuộc vào việc cho ăn bổ sung. Sử dụng thức ăn bổ sung sẽ làm lợi nhuận giảm đến mức tối thiểu, đặc biệt ở những nơi có nguồn cá tươi hạn chế và đắt. Ao nuôi đơn cần phải cho ăn thức ăn công nghiệp hàng ngày.
- Cải tạo ao và gây màu nước
3.1 Đối với ao nuôi cũ:
– Tháo cạn nước ao, vét bùn đáy, tu sửa bờ, các cống cấp , thoát nước, san đáy ao dốc về cống thoát, đầm nén kỹ bờ ao hoặc lót bạt để chống xói lở và hạn chế rò rỉ nước. Rào lưới quanh ao để tránh các loài ký chủ trung gian gây bệnh từ bên ngoài như cua, còng, rắn…;
– Bón vôi bột với lượng 100 – 200 kg/1.000 m2 (ao chua phèn, pH đất<4 có thể dùng đến 300 – 400 kg/1.000 m2);
– Bừa kỹ để vôi ngấm vào đáy để diệt hết tôm, cua, còng, ốc, côn trùng, cá tạp còn sót lại, diệt khuẩn trong bùn, giải độc (kim loại nặng H2S và trung hòa pH). Đối với ao lót bạt chỉ cần vệ sinh và khử trùng
– Phơi đáy ao từ 1 – 2 tuần.
3.2 Đối với ao nuôi mới:
– Ao sau khi mới xây xong cần thay chua 2 – 3 lần sau đó căn cứ vào nồng độ pH của đất để bón vôi cải tạo với lượng 100 – 200 kg/1.000 m2
3.3 Xử lý nước:
– Lấy nước vào ao qua túi lọc bằng vải dày nhằm loại bỏ rác, ấu trùng cua, còng, ốc, côn trùng…. Để lắng 3 – 4 ngày;
– Khi mực nước trong ao đạt 1 – 1,2 m, chạy quạt nước liên tục trong 2 – 3 ngày để kích thích trứng cua, còng, ốc, côn trùng…nở thành ấu trùng;
– Diệt tạp, diệt khuẩn nước trong ao vào buổi sáng (8h) hoặc buổi chiều (16h) bằng Chlorine nồng độ 20 – 30 ppm (20 – 30 kg/1.000 m3 nước) hoặc những chất diệt tạp có tên trong Danh mục được phép lưu hành tại Việt Nam (không dùng thuốc bảo vệ thực vật và các chất cấm);
– Quạt nước liên tục trong 7- 10 ngày để phân hủy dư lượng Chlorine;
* Lưu ý: không lấy nước vào ao khi: nước bên ngoài có nhiều váng bọt, màng nhầy, nhiều phù sa; nguồn nước nằm trong vùng có dịch bệnh; nước có hiện tượng phát sáng vào ban đêm.
3.4 Gây màu nước:
Hiện nay chủ yếu gây màu nước bằng chế phẩm vi sinh (theo hướng dẫn của nhà sản xuất) để phân hủy mùn bã hữu cơ lơ lửng, xác tảo chết tích tụ do dùng hóa chất diệt khuẩn trước đó, tạo nguồn vi khuẩn có lợi giúp môi trường nuôi ổn định. Khi màu nước trong ao chuyển sang màu của tảo khuê (vàng hay nâu nhạt), độ trong đạt 40 – 60 cm thì tiến hành thả giống.
Hoặc, gây màu nước bằng cách dùng dịch chiết cá tạp (dùng cá tạp tươi trộn với 2% vôi sống cho vào bể ủ kín, sau hai tháng thì lấy dịch chiết ra dùng), liều lượng 1 lít/20 m3 nước.
* Lưu ý: Đối với những ao khó gây màu nước, hay màu nước không bền nên bổ sung thêm các thành phần khoáng, Silic để giữ màu nước trong ao nuôi; không dùng phân vô cơ để gây màu nước
- Chọn và thả giống
– Nguồn gốc cá giống: nên chọn mua cá giống được sản xuất nhân tạo từ những cơ sở sản xuất giống có uy tín, nguồn gốc truy xuất rõ ràng, chất lượng cá bố mẹ và cá giống tốt và đã qua kiểm dịch.
– Cỡ cá giống: cá giống nuôi thương phẩm từ 6 – 8 cm
– Chất lượng cá giống: cá có kích cỡ đồng đều, không dị tật, dị hình, cá khỏa mạnh đã ăn hoàn toàn bằng thức ăn công nghiệp và đã được thuần hóa phù hợp môi trường ao nuôi.
– Mùa vụ thả giống: tại Hà Tĩnh nên thả vào tháng 3 – 4 hàng năm
– Thả giống: chọn thời điểm trời mát (sáng sớm hoặc chiều mát); loại bỏ những con yếu, bị xây xát. Thả vào đầu chiều gió, trước khi thả đưa túi cá giống xuống ao trong vòng 5 – 10 phút cho cá thích ứng dần với môi trường nước sau đó mở túi thả cho cá giống ra từ từ.
– Mật độ thả: 1 – 3 con/m2 (tùy vào điều kiện cụ thể của từng ao nuôi, thị trường tiêu thụ, khả năng đầu tư, trình độ kỹ thuật của chủ hộ mà định ra mật độ nuôi cho thích hợp).
- Thức ăn và cách cho ăn
– Thức ăn viên dạng nổi
– Loại chuyên dùng cho nuôi cá biển.
– Hàm lượng protein 40 – 45%, hàm lượng lipid 12 – 15%.
– Không sử dụng thức ăn có chất lượng kém, thức ăn bị ẩm mốc, hết hạn sử dụng…
– Hiện nay, có một số loại thức ăn nuôi cá biển, cá chim vây vàng như: De Heus, Nutreco, Ocialis, Ewos, Tomboy, UP…
– Số lần cho ăn: Thời tiết bình thường thì cho ăn 2 lần/ngày (2 cữ) vào 7 – 8 giờ và 16 – 17 giờ. Nếu thời tiết mưa trùng vào thời gian cho ăn thì cắt cữ; Nếu thời tiết nắng nóng cao điểm trên 420C thì sáng cho ăn sớm hơn 30 phut, chiều cho ăn muộn hơn 30 phút, tăng cường chạy quạt nước để giải phóng khí độc trong ao;
– Lượng thức ăn được quản lý cho ăn trong từng bữa ăn theo thực tế và không căn cứ vào trọng lượng đàn cá để cho ăn;
– Cá được cho ăn ở một vị trí cố định trong ao (ở mỗi ao đều làm các khung cho cá ăn nổi trên mặt nước)
– Theo dõi tình trạng sức khỏe đàn cá trong mỗi lần cho ăn, cá ăn nhanh hay ăn chậm hơn so với bữa trước để có biện pháp xử lý kịp thời. Đồng thời cho lượng thức ăn phù hợp với tình trạng sức khỏe của cá trong mỗi bữa ăn và lường lượng thức ăn ở bữa ăn tiếp theo. Thường thời gian cho ăn kéo dài 30 phút, cho thức ăn từ từ vào trong vị trí khung cho ăn, cá ăn tới đâu thì cho tới đó, đến hết 30 phút thấy dư ít hạt thức ăn thì dừng lại và vớt thức ăn dư thừa ra khỏi ao. Quá trình cho ăn nếu thấy cá ăn nhanh hơn tầm 25 phút đã hết thức ăn thì ta cho ăn thêm thức ăn, đồng thời tăng thức ăn ở bữa tiếp theo, nếu sau 30 phút mà thức ăn vẫn dư trong chậu thì bữa tiếp theo giảm; Như vậy lượng thức ăn được điều chỉnh trong từng bữa ăn – tổng thời gian ăn của cá cố định là 30 phút đảm bảo con nào cũng được ăn và không cố định theo trọng lượng tổng đàn cá; Nếu thời tiết bình thường nhiệt độ dao động không lớn giữa ngày hôm trước và ngày hôm sau mà cá có dấu hiệu ăn giảm thì phải bắt cá kiểm tra sức khỏe, đồng thời kiểm tra ngay môi trường ao nuôi – nếu cần thiết phải thay nước – lượng nước thay tùy thuộc vào tình trạng môi trường nước được kiểm tra có thể từ 10-50%; nếu phát hiện bệnh phải xử lý luôn;
Khi cho ăn vất một ít thức ăn xuống trước kiểm tra xem hôm nay cá có ăn hay không rồi mới tiếp tục cho ăn, mỗi lần quăng thức ăn khoảng 10% tổng lượng thức ăn dự kiến cho ăn;
– Cứ 15 ngày tiến hành cân mẫu kiểm tra tốc độ tăng trưởng của cá bằng cách lấy mẫu để cân trọng lượng cá (lấy 30 mẫu ngẫu nhiên); Xem cá có phát triển bình thường hay không. Nếu thấy cá chậm lớn hay thậm chí không lớn thì phải tìm ra nguyên nhân để khắc phục kịp thời: có khi do bệnh, có khi do lỗi con giống, có khi do môi trường kém, có khi do chất lượng thức ăn không đảm bảo….; (Cần xoát xét tất cả các yếu tố làm cá chậm phát triển để đưa ra giải pháp kịp thời và phù hợp; nếu xác định nguyên nhân do môi trường thì nhanh chóng xử lý môi trường: thay nước, đánh vi sinh, sát khuẩn…; nguyên nhân do bệnh thì xác định loại bệnh để dùng thuốc đặc trị; nguyên nhân do con giống thì thu hoạch sớm; nguyên nhân do thức ăn kém chất lượng thì hỏi thăm các khách hàng đang xử dụng cùng hãng thức ăn, cùng số thức ăn nếu xác định các hộ khác cũng bị chậm ở giai đoạn sử dụng số thức ăn giống nhau thì đổi thức ăn khác…);
– Định kỳ hàng ngày trộn bổ sung thêm vitamin, men tiêu hóa khoáng chất cần thiết để tăng sức đề kháng và khả năng hấp thu thức ăn cho cá.
- Chăm sóc và quản lý
6.1 Chất lượng nước: thường xuyên được duy trì các thông số:
- pH: 5 – 8.5 (Tối ưu 7.2 – 8.2);
- Hàm lượng ô xy hòa tan DO: ≥ 5 mg/l;
- S0/00: 10 – 300/00 (Tối ưu 15 – 250/00);
- Nhiệt độ: 20 – 32oC (Tối ưu 27 – 30oC);
- Độ kiềm: > 100mg CaCO3/l
- Độc tố Ammonia N-NH3: < 0,03 mg/l;
- Độc tố Nitrite N-NO2: < 0,2 mg/l;
- Độ trong: 40 – 60 cm.
Theo dõi chất lượng nước thuỷ triều và chất lượng nước trong ao để tiến hành thay nước. Hàng tháng thay 20 – 30 % lượng nước ao nuôi. Đảm bảo mực nước ao luôn ở mức >1,5m.
6.2 Quạt nước: nhu cầu o xy của cá chim cao nên cần đầu tư hệ thống quạt nước và sục khí để đảm bảo lượng ô xy trong suốt quá trình nuôi; ngoài việc cung cấp ô xy còn có tác dụng tạo dòng chảy, khuấy đảo nước giúp phân tán lượng ô xy hòa tan đồng đều, giải phóng lượng khí độc ở đáy ao, giúp nước trong ao không bị phân tầng nhiệt độ.
6.3 Bón vi sinh: sử dụng chế phẩm vi sinh để duy trì chất lượng nước trong ao nuôi, giúp duy trì và ổn định hệ vi sinh vật có lợi, phân hủy vật chất hữu cơ, xác tảo, thực vật chết, chất thải của cá, thức ăn dư thừa…trong ao nuôi. Định kỳ 10 – 15 ngày/lần bổ sung vi sinh, liều lượng tùy theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Đồng thời, dựa vào thông số chất lượng nước của ao nuôi (Đặc biệt là NH3 và NO2– ) để điều chỉnh liều lượng và tần suất.
- Phòng và trị bệnh thường gặp
7.1 Phòng bệnh
– Sử dụng cá giống có nguồn gốc rõ ràng, đã qua sàng lọc, đảm bảo cá giống không bị nhiễm bệnh, đặc biệt là bệnh hoại tử thần kinh VNN;
– Kiểm soát nghiêm ngặt việc cấp, xả nước để tạo điều kiện môi trường nước cho ao nuôi, các chỉ số chất lượng nước ao nuôi luôn ở ngưỡng thích hợp;
– Sử dụng thức ăn công nghiệp, không sử dụng thức ăn cá tạp vì dễ ô nhiễm tạo điều kiện cho tác nhân gây bệnh phát triển;
– Cung cấp đầy đủ lượng thức ăn, bổ sung Vitamin C;
– Nếu xuất hiện cá chết cần vớt ra khỏi ao và chôn lấp với vôi bột đồng thời báo ngay với cơ qua chức năng có trình độ chuyên môn để có phương án xử lý.
7.2 Trị bệnh
Cá chim vây vàng thích hợp cho nuôi lồng biển và ao đầm nước mặn, lợ. Trong quá trình nuôi, đã xuất hiện nhiều loại bệnh, làm cá chết từ rải rác đến hàng loạt. Do vậy, người nuôi cần cập nhật các thông tin về bệnh để phòng, trị kịp thời.
– Nguyên nhân: Do vi khuẩn Vibrrio sp và Vibrrio anguillarum gây ra.
– Dấu hiệu bệnh lý: cá nhiễm bệnh thường bỏ ăn, chết rải rác, bụng trương to ra, thức ăn không tiêu; cá hoạt động kém, bơi chậm chạp, màu sắc của cá chuyển từ nâu sang xám đen. Bệnh xuất hiện ở giai đoạn cá giống và nuôi cá thương phẩm ở mật độ cao khi nước nhiễm bẩn.
– Biện pháp phòng trị: nước luôn phải sạch, không ô nhiễm; thức ăn của cá nên được bổ sung Vitamin C để tăng sức đề kháng. Khi phát hiện cá bị bệnh cần thay nước liên tục trong 3 ngày, mỗi ngày 50% lượng nước và trộn thuốc kháng sinh Tetracycline vào thức ăn với liều lượng 3 – 5g/kg thức ăn, cho ăn liên tục trong 5 ngày, mỗi ngày một lần vào buổi sáng.
– Nguyên nhân: bệnh do vi khuẩn Nocardia sp
– Dấu hiệu bệnh lý: cá nhiễm bệnh thường bỏ ăn, xuất hiện nhiều vết phồng rộp nhỏ dưới da, sau đó vỡ tạo nên các điểm thương tổn nhỏ màu nâu. Mang cá xuất hiện nhiều dịch nhầy cùng các vùng thương tổn và hạt nhỏ màu trắng đục. Phía trên xương sống xuất hiện một số khối u làm xương sống bị vẹo gây dị dạng cho cá. Quan sát trong ổ bụng của cá thấy xuất hiện các hạt trắng nhỏ ở thận, lá lách và gan; bệnh thường gặp ở cá trong giai đoạn đầu thả nuôi (cỡ cá từ 6 – 10 cm), xuất hiện ở thời điểm mùa mưa (tháng 7, 8), tỷ lệ cá chết lên đến 50%.
– Biện pháp phòng, trị: thả cá mật độ vừa phải (nuôi ao 1 – 2 con/m2, lồng 3 – 5 con/m3). Đối với ao nuôi cần cải tạo ao kỹ và xử lý nước trước khi thả cá, duy trì độ mặn >10%o trông quá trình nuôi. Thay nước và bón vôi định kỳ hàng tháng với liều lượng 20 kg/1.000 m3 nước. Cung cấp đầy đủ lượng thức ăn, tránh dư thừa. Khi phát hiện cá bị bệnh thay 30 – 50% nước hàng ngày, giảm 50% lượng thức ăn; dùng kháng sinh Clindamycin (thuốc thú y) trộn với thức ăn với liều lượng 4 – 5g/kg cá, cho ăn liên tục 5 – 7 ngày.
– Nguyên nhân: bệnh do trùng Cryptocaryon, trùng bánh xe, trùng quả dưa ký sinh trên bề mặt thân, mang, mắt và vây cá.
– Dấu hiệu bệnh lý: khi bị bệnh trên da và mang thường xuất hiện các chấm trắng nhầy, cá ngứa ngáy khó chịu, bơi chậm chạp, không định hướng, trên da và mang bị tổn thương nhiều và nhiễm trùng thường cộ mình váo các vật cứng khi bơi; khi bệnh nặng cá bị chết nhiều. Bệnh do ký sinh trùng rất nguy hiểm vì khi chúng ký sinh có thể gây chết hàng loạt cá nuôi.
– Biện pháp phòng, trị: quản lý tốt chất lượng nước trong ao nuôi, khi cá bị bệnh có thể bắt lên tắm với formol nồng độ 50 – 100 ppm trong 10 phút (có sục khí) hoặc phun xuống ao với liều lượng 7 – 8 ppm, liên tục trong 3 ngày (phun cách ngày)
7.2.4 Bệnh hoại tử thần kinh (VNN)
– Nguyên nhân: VNN là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm gây ra bởi virus thuộc giống Betanodavirus họ Nodaviridae, có kích thước nhỏ 25 nm đến 30 nm.
Dấu hiệu bệnh lý: cá có biểu hiện thần kinh như bơi lội không bình thường (bơi vòng tròn, bơi ngửa, bơi hỗn loạn không định hướng…), bỏ ăn, da tối màu, trương bóng hơi và tỷ lệ chết lớn. Giai đoạn cấp tính thường xuất hiện tại các trại ương giống ấu trùng (từ 10 – 25 ngày tuổi). Cá chết và hấp hối hầu hết bóng hơi trương phồng, có sự xung huyết trong. Cá bệnh hoạt động yếu, đầu nổi trên mặt nước hoặc nằm dưới đáy ao, bể hoặc lồng. Triệu chứng tăng dần khi cả quần đàn nhiễm bệnh. Cá chết sau khoảng từ 3 – 5 ngày sau khi có dấu hiệu bệnh. Trong lồng, cá lớn (trên 150 g) bị bệnh VNN có ít triệu chứng hơn và tỷ lệ chết giảm. Cá thường chuyển màu đen và bơi chậm chạp với bóng hơi trương phồng và có thể hoặc không có vết bệnh ở đầu. Giải phẫu cơ quan nội tạng bình thường và ruột không có thức ăn.
– Biện pháp phòng, trị: ở Việt Nam hiện nay bệnh VNN có gần như quanh năm và bùng phát mạnh từ tháng 5 – 10, đặc biệt khi mưa nhiều. Nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của bệnh là 25ºC – 30ºC, tỷ lệ chết lên đến 100%. Virus gây bệnh VNN ngoài lây truyền theo chiều dọc (từ mẹ sang con) còn có thể lây truyền theo trục ngang như qua dòng nước, lây truyền từ cá thể bị bệnh sang cá thể khỏe mạnh trong cùng một bể, chúng có thể lây lan qua các dụng cụ vận chuyển cá và các sản phẩm từ cá bị nhiễm virus từ nơi này đến nơi khác. Do đó, để hạn chế thiệt hại do VNN cần lựa chọn con giống từ cá bố mẹ không mang virus VNN, sát trùng bể ương, dụng cụ bằng Chlorine và rửa sạch lại trước khi sử dụng.
Hiện nay, chưa tìm được thuốc trị bệnh do virus gây ra, vì vậy cần áp dụng các biện pháp phòng trị bệnh tổng hợp để hạn chế sự xâm nhập của tác nhân gây bệnh hoặc có thể sử dụng vaccine để phòng bệnh VNN.
- Thu hoạch.
Sau 6 – 8 tháng nuôi có thể thu hoạch cá với cỡ thương phẩm từ 600 – 800 g/con.
Trước khi thu hoạch 1 ngày không cho cá ăn; trường hợp thu cá một lần: hạ mức nước xuống còn 0,5 m và kéo lưới thu toàn bộ. Trường hợp thu tỉa: hạ mức nước vừa đủ, kéo lưới thu một phần cá sau đó cấp nước vào ao như cũ.
Lưu ý: Đây là loài vận động mạnh, ngưỡng ôxy cao do đó không nên thu hoạch cá khi mặt trời chưa lên (trước 8 h) hoặc trời âm u hoặc lúc nắng to.
Trương Huy Dũng