Cá nâu (tên khoa học: Scatophagus argus) là loài cá nước lợ có khả năng thích nghi tốt với môi trường, ít dịch bệnh và có giá trị kinh tế cao. Trong những năm gần đây, cá nâu được xem là đối tượng tiềm năng trong chuyển đổi mô hình nuôi thủy sản ven biển. Việc áp dụng đúng quy trình kỹ thuật nuôi có ý nghĩa quan trọng nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế. Bài viết này giới thiệu một số nội dung kỹ thuật cơ bản trong nuôi cá nâu, làm cơ sở cho người nuôi tham khảo, áp dụng vào thực tiễn sản xuất.
- Giới thiệu chung
Cá nâu là một trong những loài cá biển có giá trị kinh tế, giá trị dinh dưỡng cao và thị trường tiêu thụ tốt. Cá sống ở môi trường nước lợ đầm phá, ven biển; cá thường phân bố ở những nơi có bãi triều, trú ẩn trong các hốc, rễ cây và chà các ao đầm sông rạch; đặc tính sống của cá là nơi có giá thể và theo bầy đàn. Nguồn giống cá nâu chủ yếu thu gom từ tự nhiên để thả nuôi hàng năm; đến nay đã được sinh sản nhân tạo tại một số cơ sở sản xuất giống. Cá nâu có thể được nuôi chuyên đơn canh hoặc nuôi xen ghép với các đối tượng tôm, cua, cá nước lợ mặn khác trong ao đem lại hiệu quả kinh tế cho người dân địa phương vùng đầm phá và ven biển của tỉnh.
Cá nâu là loài cá ăn tạp, thức ăn bao gồm cả động vật và thực vật. Trong tự nhiên, thức ăn của cá gồm mùn bã hữu cơ; động vật đáy; ấu trùng côn trùng; cá con, ruốc, tôm nhỏ, cua con; hai mảnh vỏ nhỏ và một số loài rong. Ngoài ra cá còn ăn được thức ăn công nghiệp của tôm.
Cá nâu sinh trưởng tốt nhất ở độ mặn 10 – 15%o; sau thời gian nuôi 8 – 10 tháng cá có thể đạt trong lượng trung bình 150 – 200 g/con.
- Hướng dẫn kỹ thuật ương nuôi cá nâu thương phẩm
- Lựa chọn ao nuôi
– Diện tích từ: 2.000 – 5.000 m2
– Chất đáy là bùn cát hoặc cát bùn.
– Ao có 1 hoặc 2 cống
– Bờ đê chắc chắn, không bị rò rỉ (đặc biệt quan trọng)
– Nguồn nước sạch không ô nhiễm do chất thải nông, công nghiệp và sinh hoạt. Ao có độ sâu 1,5 – 2m, thuận tiện giao thông.
- Cải tạo ao nuôi
2.1. Đối với ao đất:
– Tháo cạn nước, lấy rong, nạo vét bùn đáy đưa đến đúng nơi quy định;
– Diệt tạp: Bắt hết cá và sử dụng các sản phẩm như saponin, hạt mác,… để diệt hết cá tạp với liều lượng theo hướng dẫn của nhà sản xuất;
– Cày lật, bón vôi và phơi ao để phân hủy hữu cơ, diệt khuẩn, tạo độ tơi xốp cho đáy ao.
2.2. Đối với ao lót bạt:
Vệ sinh ao, trang thiết bị dụng cụ, hệ thống khác phục vụ cho ao ương nuôi.
* Lấy nước vào ao qua túi lọc và kiểm tra các thông số môi trường nước ao trước khi thả giống để đảm bảo: Độ mặn > 10‰; pH 7,5 – 8,5; độ trong (màu nước) 30 – 40cm và có màu xanh lá chuối non; hàm lượng oxy hoàn tan (DO) ≥ 5 mg/l.
Lưu ý mức nước trong ao đạt 1m lúc mới thả nuôi, sau đó duy trì mức nước trong ao đạt 1,2 m -1,5 m.
- Lựa chọn và thả giống
3.1. Lựa chọn con giống:
Cá giống khoẻ, hoạt động nhanh, nhìn ngoài màu sắc sáng đẹp, không bị trầy xướt là đủ tiêu chuẩn chọn nuôi, kích cỡ giống cá nâu: kích cỡ 4 – 5 cm/con.
Hiện nay, nguồn giống cá nâu từ thu gom từ tự nhiên nếu cá có kích cỡ nhỏ tốt nhất cần ương tại ao có diện tích nhỏ 1.000m2 để cá đạt kích cỡ 4 – 5 cm/con và đồng thời thuần giống đảm bảo rồi chuyển sang ao nuôi.
3.2. Vận chuyển con giống:
Vận chuyển giống cá nâu bằng phương pháp vận chuyển hở có sục khí hoặc vận chuyển kín bằng túi nilon có bơm oxy. Nên vận chuyển cá vào những ngày trời mát
3.3. Mật độ thả giống:
Tùy theo điều kiện ao nuôi, khả năng đầu tư và kinh nghiệm nuôi để xác định mật độ thả nuôi phù hợp.
Mật độ xen ghép 0,5 – 1 con/m2.
Mật độ nuôi thâm canh cá nâu: 3 – 5 con/m2,
3.4. Phương pháp thả giống:
Nên thả giống vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát.
Trước khi thả ngâm túi cá trong ao từ 10 – 15 phút để cân bằng nhiệt độ, sau đó cho nước trong ao từ từ hòa vào túi cá để cá quen với môi trường nước mới, nghiêng miệng bao cho cá từ từ bơi ra ao.
- Cho ăn
4.1.Cách cho ăn:
Dùng thức ăn công nghiệp dành cho tôm độ đạm > 35%, lượng thức ăn trong ngày 3 – 6% trọng lượng thân.
Định kỳ 10 ngày trộn thêm vitamin C cho cá ăn, liều lượng 5 g/kg thức ăn và cho ăn 5 – 7 ngày liên tục.
Ngày 2 lần, sáng 7- 8 giờ và chiều 5- 6 giờ. Thức ăn được rải khắp ao. Khi cho cá nâu ăn cần quan sát kỹ tránh không cho ăn thừa hoặc thiếu thức ăn và cần theo dõi để cân đối lượng thức ăn hằng ngày cho phù hợp. Việc cho ăn dư thừa sẽ gây lãng phí đồng thời làm ô nhiễm đáy ao, cho ăn thiếu cá sẽ chậm lớn, phân đàn.
4.2. Một số điểm cần chú ý khi cho cá ăn:
Thức ăn phải đảm bảo chất lượng và số lượng. Nên cố định địa điểm, thời gian cho ăn. Tăng lượng thức ăn lên khi ta thấy lượng thức ăn đưa vào được cá ăn hết nhanh hoặc phải giảm lượng thức ăn khi thấy lượng thức ăn còn dư thừa của bữa ăn trước. Cho các đối tượng nuôi ăn nhiều vào ngày thời tiết đẹp và cho cá ăn ít vào ngày thời tiết xấu hoặc trước khi mưa.
- Chămsóc và quản lý
Định kỳ 10 ngày/lần bón bổ sung thêm phân NPK 0,1 – 0,2 kg/100m2 ao để tạo thức ăn tự nhiên trong ao nuôi.
Định kỳ 7 – 10 ngày/lần thay nước hoặc cấp nước thêm cho ao, lượng nước thay 20 – 30%. Sau khi cấp nước bón vôi Dolomite 0.5 – 1 kg/100m2 để ổn định các yếu tố môi trường giúp cá sinh trưởng và phát triển tốt trong ao.
Thường xuyên kiểm tra các yếu tố môi trường đảm bảo: pH 7,5 – 8,5 (đo 2 lần/ngày vào 10 giờ và 16 giờ, dao động trong ngày không quá 0,5 đơn vị giữa 2 lần đo); độ mặn > 10‰ (chênh lệch không quá 2‰); nhiệt độ nước < 320C; hàm lượng oxy hòa tan (DO) > 4 mg/l; duy trì mức nước 1,2m trở lên; độ kiềm 90 – 120mg/l.
Khi có biểu hiện khác thường về chất tượng nước hoặc tình trạng cá nuôi cần đo các yếu tố môi trường để có hướng xử lý kịp thời, điều chỉnh phù hợp giúp cá nâu sinh trưởng và phát triển tốt ở trong ao
Bắt đầu từ tháng nuôi thứ 2 người nuôi sử dụng chế phẩm sinh học xử lý đáy kết hợp với Zeolite để bón xuống ao nuôi nhằm xử lý các chất thải, thức ăn dư thừa lắng tụ ở đáy ao.
Bón vôi trước và sau khi trời mưa với lượng 0,5 – 1 kg/100m2 ao để ổn định pH nước ao nuôi.
Định kỳ 30 ngày kiểm tra trọng lượng cá nuôi, ước tỷ lệ sống để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp.
Mực nước ao nuôi đảm bảo độ sâu trên 1m , độ trong 25 – 40cm.
- Thu hoạch
Cá nâu nuôi thời gian khoàng 8 tháng kích cỡ cá thương phẩm đạt 150 – 200 g/con tiến hành thu hoạch để bán.
Có thể áp dụng biện pháp thu tỉa cá nâu khi nuôi khoảng 7 tháng nên thu những con cá vượt đàn và nuôi tiếp để những con cá nhỏ hơn đạt kích cỡ thu hoạch.
Nên thu vào lúc trời mát, tránh gây ảnh hưởng cá còn lại trong ao. Sau đó xác định lượng cá còn lại trong ao để cho ăn phù hợp.
Nên lựa chọn thời điểm thu hoạch để giá bán cao, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Nên thu hoạch cá và giữ cá sống để bán được giá cao./.
Hoàng Thanh