Trong bối cảnh nhiều địa phương đang đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, việc tìm kiếm những mô hình chăn nuôi mới, phù hợp với điều kiện thực tế đang trở thành hướng đi được nhiều nông dân lựa chọn. Tại xã Đan Hải, mô hình nuôi chồn hương của chị Trần Thị Dung (SN 1974, thôn Hợp Phúc) là một trong những điểm sáng, không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế cao mà còn mở ra triển vọng đa dạng hóa đối tượng vật nuôi, góp phần phát triển kinh tế nông thôn theo hướng bền vững.
Đến thăm khu chăn nuôi của gia đình chị Dung vào những ngày đầu hè, điều gây ấn tượng đầu tiên là hệ thống chuồng trại được đầu tư khá bài bản, sạch sẽ và khoa học. Trên khu vườn rộng gần 1.200 m², chị dành khoảng 300 m² để xây dựng khu nuôi chồn hương với các dãy chuồng được phân chia riêng biệt cho chồn sinh sản, chồn hậu bị và chồn con. Mỗi ô chuồng đều được thiết kế thông thoáng, đảm bảo vệ sinh, thuận lợi cho việc chăm sóc cũng như theo dõi sức khỏe vật nuôi.
Ít ai biết rằng, để có được thành quả hôm nay, chị Dung đã trải qua không ít khó khăn và những lần thử nghiệm đầy áp lực.
Cuối năm 2024, khi nhận thấy nhu cầu thị trường đối với chồn hương ngày càng tăng, trong khi số lượng cơ sở nuôi còn khá ít, chị quyết định đầu tư phát triển mô hình. Không vội vàng làm theo phong trào, chị dành nhiều thời gian trực tiếp đến các trang trại nuôi chồn hương trong tỉnh để học hỏi kỹ thuật, tìm hiểu đặc tính sinh học, cách chăm sóc cũng như thị trường tiêu thụ trước khi bắt tay thực hiện.
Sau quá trình chuẩn bị kỹ lưỡng, chị mạnh dạn đầu tư khoảng 350 triệu đồng từ nguồn vốn tích lũy của gia đình kết hợp vốn vay từ Ngân hàng Chính sách xã hội để mua 20 con giống và xây dựng chuồng trại.
“Thời điểm đó cũng nhiều người lo lắng vì đây là vật nuôi còn khá mới ở địa phương. Gia đình cũng đắn đo rất nhiều nhưng nghĩ nếu mình chịu khó học hỏi, làm đúng kỹ thuật thì sẽ có cơ hội thành công”, chị Dung chia sẻ.
Những ngày đầu nuôi, do chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế nên việc chăm sóc đàn chồn gặp không ít trở ngại. Một số con chậm thích nghi với môi trường mới, tỷ lệ sinh sản chưa cao, thậm chí xuất hiện một số bệnh khiến chị nhiều phen lo lắng.
Không nản chí, chị tiếp tục tham gia các lớp tập huấn về thú y, kỹ thuật chăn nuôi, chủ động trao đổi với những hộ nuôi lâu năm để tích lũy thêm kinh nghiệm. Nhờ kiên trì học hỏi và điều chỉnh quy trình chăm sóc phù hợp, đàn chồn dần phát triển ổn định.
Đến nay, sau gần hai năm, từ 20 con giống ban đầu, đàn chồn của gia đình đã phát triển lên gần 70 con, trong đó có nhiều con đang bước vào giai đoạn sinh sản, tạo nguồn giống ổn định phục vụ mở rộng quy mô.
Theo chị Dung, ưu điểm lớn của chồn hương là tương đối dễ nuôi, sức đề kháng khá tốt nếu đảm bảo điều kiện chuồng trại và vệ sinh môi trường. Nguồn thức ăn cũng rất đa dạng, chủ yếu là chuối, đu đủ, các loại quả chín kết hợp với cám viên và một số thực phẩm giàu đạm nên chi phí thức ăn không quá cao.

Chị Trần Thị Dung chăm sóc đàn chồn hương tại khu chuồng nuôi. Nhờ chủ động học hỏi kỹ thuật, áp dụng quy trình chăn nuôi khoa học, đàn chồn từ 20 con giống ban đầu đã phát triển lên gần 70 con.
Điều quan trọng nhất là người nuôi phải nắm được tập tính của chồn hương, theo dõi thường xuyên để phát hiện sớm các biểu hiện bất thường, đồng thời giữ chuồng trại luôn sạch sẽ, khô ráo nhằm hạn chế phát sinh dịch bệnh.
Hiện nay, thị trường tiêu thụ chồn hương đang khá thuận lợi. Không chỉ có nhu cầu đối với chồn thương phẩm mà chồn giống và chồn sinh sản cũng được nhiều hộ chăn nuôi tìm mua.
Theo chị Dung, chồn thương phẩm hiện có giá khoảng 2 triệu đồng/kg. Chồn giống sau khi tách mẹ được bán khoảng 8 triệu đồng/cặp, trong khi chồn chuẩn bị sinh sản có giá từ 30–35 triệu đồng/cặp. Với mức giá này, mô hình mang lại giá trị kinh tế cao hơn nhiều so với nhiều loại vật nuôi truyền thống nếu người nuôi chủ động được con giống và thực hiện đúng quy trình kỹ thuật.
Không chỉ tạo nguồn thu ổn định cho gia đình, mô hình còn trở thành địa chỉ để nhiều hộ dân trong và ngoài địa phương đến tham quan, học tập kinh nghiệm. Nhiều người bày tỏ sự quan tâm và mong muốn phát triển mô hình trong thời gian tới nhằm đa dạng hóa sinh kế, nâng cao thu nhập.
Đánh giá về hiệu quả của mô hình, bà Trần Thị Thanh Thủy, Chủ tịch Hội Nông dân xã Đan Hải cho biết, đây là một trong những mô hình chăn nuôi mới có nhiều triển vọng phát triển tại địa phương.

Lãnh đạo Hội Nông dân xã Đan Hải cùng cán bộ địa phương tham quan, đánh giá mô hình nuôi chồn hương của gia đình chị Trần Thị Dung (thôn Hợp Phúc). Mô hình được đầu tư chuồng trại bài bản, từng bước mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Theo bà Thủy, chồn hương là vật nuôi có giá trị kinh tế cao, chi phí thức ăn không lớn, kỹ thuật nuôi không quá phức tạp nếu người dân được hướng dẫn bài bản. Đặc biệt, diện tích chuồng nuôi không cần quá lớn nên phù hợp với điều kiện của nhiều hộ gia đình.
“Qua theo dõi thực tế, mô hình của chị Trần Thị Dung bước đầu đã chứng minh được hiệu quả về kinh tế. Đây sẽ là cơ sở để địa phương tiếp tục tuyên truyền, định hướng những hộ có điều kiện nghiên cứu phát triển, góp phần đa dạng hóa đối tượng chăn nuôi, nâng cao thu nhập cho người dân”, bà Thủy cho biết.
Thời gian tới, Hội Nông dân xã sẽ tiếp tục phối hợp với các ngành chuyên môn tăng cường tập huấn kỹ thuật, hỗ trợ người dân tiếp cận nguồn vốn ưu đãi, đồng thời thúc đẩy liên kết trong tiêu thụ sản phẩm để mô hình phát triển bền vững.
Thực tế cho thấy, trong điều kiện quỹ đất sản xuất ngày càng thu hẹp, việc lựa chọn những vật nuôi có giá trị kinh tế cao, tận dụng được nguồn thức ăn sẵn có và phù hợp với điều kiện địa phương là hướng đi cần được khuyến khích. Tuy nhiên, để mô hình nuôi chồn hương phát triển lâu dài, người dân cần tìm hiểu kỹ các quy định về nguồn gốc con giống, đăng ký chăn nuôi theo quy định của pháp luật, chủ động phòng chống dịch bệnh và xây dựng đầu ra ổn định trước khi mở rộng quy mô.
Với sự mạnh dạn đổi mới, tinh thần dám nghĩ, dám làm cùng sự kiên trì học hỏi, mô hình nuôi chồn hương của chị Trần Thị Dung đang góp thêm một minh chứng sinh động cho quá trình chuyển dịch cơ cấu chăn nuôi ở vùng nông thôn. Đây không chỉ là câu chuyện làm kinh tế hiệu quả của một hộ gia đình mà còn là gợi mở về một hướng phát triển mới, góp phần nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp và tạo thêm sinh kế bền vững cho người dân địa phương./.
BBT