Tỉnh Hà Tĩnh có tổng diện tích tự nhiên hơn 599.431 ha, trong đó nhóm đất nông nghiệp 495.852 ha, chiếm 82,72% diện tích tự nhiên; có 69 xã, phường. Điều kiện tự nhiên với 3 vùng sinh thái đặc trưng (miền núi, đồng bằng, biển và ven biển), tiềm năng đất đai phong phú cho phát triển nền nông nghiệp đa dạng, đa giá trị: Đất trồng cây hàng năm: 91.806,76 ha (chiếm 18,53% diện tích đất sản xuất nông nghiệp), gồm: Đất trồng lúa 67.448,18 ha, đất trồng cây hàng năm khác 24.358,58 ha; đất trồng cây lâu năm 44.496,64 ha (chiếm 8,97% đất sản xuất nông nghiệp); đất lâm nghiệp 351.706,38 ha (chiếm 70,93% diện tích đất nông nghiệp), gồm: Đất rừng sản xuất 162.307,30 ha, đất rừng phòng hộ 115.082,64 ha, đất rừng đặc dụng 74.316,44 ha; đất nuôi trồng thủy sản 5.358,41 ha; đất chăn nuôi tập trung 201,78 ha; đất làm muối 378,49 ha; đất nông nghiệp khác 1.903,86 ha. Hà Tĩnh thuộc vùng có điều kiện khí hậu khắc nghiệt, chịu tác động lớn của biến đổi khí hậu, thiên tai xảy ra thường xuyên (bão mạnh, mưa lũ lớn, nắng nóng và hạn hán, rét đậm rét hại, sương muối, dông lốc…). Tuy vậy, điều kiện tự nhiên, khí hậu này cũng tạo nên nhiều sản phẩm nông sản đặc sản, đặc hữu nổi tiếng (như: cam chanh, cam bù, bưởi Phúc Trạch, nhung hươu, trầm hương, hồng (hồng Yên Du, hồng Thạch Đài), thủy đặc sản (tôm, mực nhảy, cá,…)
Việc phát triển trồng dược liệu dưới tán rừng, các loài cây lâm sản ngoài gỗ nói chung, các loài cây đặc sản, có giá trị kinh tế (tre lấy măng…) được tỉnh Hà Tĩnh khuyến khích trong nhiều năm nay, trở thành hướng đi đúng đắn, vừa nâng cao thu nhập cho người dân, phát triển kinh tế, vừa chống xói mòn đất, bảo vệ nước, môi trường, cảnh quan sinh thái. Các mô hình trồng dược liệu dưới tán cây rừng, mô hình trồng cây lâm sản ngoài gỗ, trồng các loài tre, măng hiện là giải pháp bảo vệ tài nguyên đất, rừng hiệu quả cũng như bảo tồn cây thuốc quý, khai thác giá trị về kinh tế, mở ra hướng phát triển sinh kế mới cho người dân miền núi, trung du và bán sơn địa. Tuy nhiên, những kết quả đạt được trong phát triển cây dược liệu dưới tán rừng, phát triển các loài cây lâm sản ngoài gỗ, tre măng trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế sẵn có. Bên cạnh đó, việc phát triển kinh tế từ rừng, các vùng đất bán sơn địa trên địa bàn đang còn đơn thuần, chủ yếu phát triển trồng cây keo, gỗ nguyên liệu nhỏ, chưa đa dạng về đối tượng sản xuất và sản phẩm từ rừng; các mô hình sản xuất lâm sản ngoài gỗ đang còn hạn chế, các tiến bộ khoa học công nghệ chưa được đưa vào ứng dụng trong phát triển sản xuất; các loại dược liệu quý có nguồn gốc từ rừng chưa được đầu tư sản xuất, duy trì và phát triển.
Măng Lục trúc (Dendrocalamus latiflorus) là giống tre lấy măng chuyên dụng có nguồn gốc từ Đài Loan. Khác với các loại măng truyền thống (măng nứa, măng điền trúc), măng Lục Trúc có ưu điểm vượt trội: vỏ mỏng, thịt trắng, giòn, ngọt thanh, ăn sống được và không có vị đắng hay chát. Trong những năm gần đây, nhu cầu tiêu thụ măng sạch, măng an toàn trên thị trường ngày càng tăng cao. Cây măng Lục trúc là loại cây trồng có giá trị kinh tế cao, phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu tại một số địa phương trên toàn quốc (Bắc Ninh, Thái Nguyên…). Lục trúc là giống tre sinh trưởng theo cụm, thân khí sinh không thật thẳng, cao từ 3-6m, đường kính 3-7cm. Khác với nhiều loại tre khác, hệ thống thân ngầm của Lục trúc dạng củ, có từ 4-8 mắt chồi, rễ chùm bám rất sâu vào cấu trúc đất. Cây có sức sống mãnh liệt, ưa độ ẩm nhưng không chịu được ngập úng. Điều kiện khí hậu: Cây sinh trưởng tối ưu ở dải nhiệt độ 18 – 22°C, lượng mưa trung bình 1.400 – 2.000mm/năm. Cây có khả năng chịu rét và sương giá nhẹ trong thời gian ngắn (ngủ đông khi nhiệt độ dưới 15°C). Măng Lục trúc phát triển tốt nhất trên các loại đất dốc tụ, đất bồi tụ ven suối, hoặc đất đồi có độ dốc dưới 25 độ (lý tưởng là dưới 15 độ). Yêu cầu tầng đất canh tác phải dày từ 40cm trở lên, đất tơi xốp, giàu mùn hữu cơ tự nhiên và thoát nước tốt.

Tham quan Vườn giống Măng Lục trúc tại HTX Măng Lục trúc lâm sinh Ngọc Châu, thành phố Bắc Ninh
Điểm khác biệt lớn nhất của Măng Lục trúc là chu kỳ khai thác dài hạn. Chỉ với một lần đầu tư trồng mới ban đầu, cây có thể cho thu hoạch liên tục từ 10 đến 15 năm, thậm chí lên tới 20 năm nếu được chăm sóc theo đúng quy chuẩn hữu cơ. Hơn nữa, mùa vụ thu hoạch kéo dài đến 6 tháng (từ tháng 4 đến tháng 9 âm lịch), dài hơn bất kỳ loại măng nào khác trên thị trường (như măng Bát độ, măng Điền trúc…), đảm bảo tạo ra dòng tiền liên tục cho người nông dân và tối ưu hóa công suất vận hành của nhà máy chế biến. Với giá trị sản phẩm măng và cây giống như hiện nay thì Măng Lục trúc là loại cây trồng đảm bảo thoát nghèo bền vững cho bà con nông dân. Măng Lục trúc có hình thuôn dài như sừng bò, củ măng cho chất lượng cao nhất khi thu hoạch củ vẫn còn nằm trong đất. Màu sắc vỏ vàng sáng, lõi trắng muốt. Vị măng giòn, ngọt và có thể ăn sống được chứ không nhất thiết phải qua chế biến. Đây là điểm đặc trưng của giống măng này. Về thành phần hóa học và dinh dưỡng, qua phân tích cho thấy Măng Lục trúc có hàm lượng tinh bột, chất xơ và dinh dưỡng cao, không hề có độc tố và đặc biệt rất tốt cho sức khỏe con người.
Năng suất cao, ổn định nhiều năm: Lục trúc thích hợp ở những nơi có khí hậu nhiệt đới gió mùa như khí hậu của Việt Nam với lượng mưa trung bình hằng năm từ 1.400 – 2.000mm. Cây chịu được rét trong thời gian ngắn. Khi nhiệt độ xuống dưới 15°C cây sẽ ngừng phát triển (ngủ đông). Độ cao thích hợp nhất dưới 500m so với mực nước biển, độ dốc dưới 25°, nhưng tốt nhất là những nơi có địa hình bằng phẳng đến hơi dốc (dưới 15°). Cây ưa ẩm nhưng không chịu được ngập úng hay khô hạn. Quá trình trồng và chăm sóc Măng Lục trúc cũng rất đặc biệt. Cây măng này chỉ ưa phân chuồng hoai mục và một lượng rất nhỏ phân NPK, đặc biệt không sử dụng bất kỳ loại thuốc bảo vệ thực vật nào, do bản thân cây trồng không có bệnh nên không có nhu cầu dùng thuốc bảo vệ thực vật, kể cả thuốc sinh học. Củ măng sau thu hoạch cũng chỉ cần bảo quản lạnh chứ không dùng bất kỳ loại hoá chất bảo quản thực phẩm nào. Do vậy sản phẩm thu hoạch hoàn toàn đáp ứng yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm.

Vùng nguyên liệu đến thời kỳ khai thác Măng Lục trúc…
Thời vụ trồng ở Miền Bắc có thể trồng tre Lục trúc từ tháng 2 đến tháng 4 hoặc từ tháng 7 đến tháng 8, ở miền Trung từ tháng 8 đến tháng 11, ở miền Nam và Tây Nguyên từ tháng 5 đến tháng 8 hàng năm, trồng vào những ngày có mưa hoặc râm mát. Tùy theo đặc điểm địa hình nơi trồng, có thể áp dụng một trong những phương thức trồng sau: Trồng tập trung thuần loài; trồng hỗn loài theo băng hay rạch với các loài cây gỗ lá rộng thường xanh; trồng phân tán bao quanh dưới chân đồi. Khoảng cách: 3m x 3m hay 4m x 4m có thể trồng dày hơn phụ thuộc vào đất và điều kiện thâm canh nhưng không quá 60 cây/sào (360m2) và mật độ khoảng trên 1.000 cây/ha.
Chi phí đầu tư cho 1ha khoảng 330 triệu đồng/ha (năm thứ nhất), bao gồm: Cày, làm đất ban đầu, đào hố, trồng cây; Cây giống; Công tưới măng, chăm sóc, nhổ cỏ gốc, tỉa cành, bón phân, thu măng; Phân vi sinh hoặc phân chuồng bón lót và bón hàng năm; Hỗn hợp lân đạm cho năm 1 và 2; Phân bón NPK cho năm 3 trở đi; Chi phí khác (dụng cụ làm đất, máy bơm, ống bơm nước; điện/xăng bơm tưới… Hiệu quả kinh tế ước tính: Năng suất ở Năm 2: bắt đầu có măng, sản lượng thấp (10–20 tấn/ha), từ năm 3: 40 – 45 tấn/ha/năm (ổn định). Giá bán măng tươi tại vườn dao động trong khoảng 10.000 – 40.000 đồng/kg (HTX bao tiêu). Doanh thu: Năm 2: 300 – 600 triệu đồng, Năm 3 trở đi : 900 – 950 triệu đồng. Lợi nhuận: Năm 1: Năm đầu tư (chi phí đầu tư 300 – 350 triệu). Năm 2: lãi 300 – 350 triệu đồng. Thời gian hoàn vốn dự kiến hoàn vốn sau 2 – 2 ,5 năm. Hiệu quả dài hạn với chu kỳ khai thác: 15 – 20 năm. Tổng lợi nhuận tích lũy cao, ổn định.

Sản phẩm sơ chế từ Măng Lục trúc…
Đối với Hà Tĩnh, nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược lâu dài và là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội. Trong điều kiện gặp nhiều khó khăn do thiên tai, dịch bệnh, biến động thị trường, với việc tập trung Cơ cấu lại ngành nông nghiệp, thực hiện tập trung, tích tụ ruộng đất, từng bước ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, sản xuất theo hướng nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp hữu cơ, xây dựng vùng nguyên liệu theo chuỗi giá trị… đã thúc đẩy phát triển các sản phẩm nông nghiệp hàng hóa chủ lực của tỉnh. Với tiềm năng, lợi thế về diện tích đất nông, lâm nghiệp hiện có để phát triển các loài cây dược liệu, lâm sản ngoài gỗ, tre lấy măng các loại (trong đó có có loài Măng Lục trúc) không chỉ giúp đa dạng hóa cơ cấu cây trồng mà còn tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập, phát triển kinh tế cho người dân nông thôn, góp phần thực hiện hiệu quả mục tiêu tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới; mô hình trồng tre lấy măng nói chung, Tre măng Lục trúc nói riêng sẽ mở ra cơ hội, hướng đi mới phù hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương, giúp cải thiện môi trường, điều hòa không khí, làm đẹp cảnh quan thiên nhiên và xu thế phát triển nông nghiệp bền vững trên đất Hà Tĩnh./.
Văn Thắng