>> Hoạt động khuyến nông

Khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế, đa giá trị trong phát triển sản xuất nông nghiệp Hà Tĩnh trên các lĩnh vực, sản phẩm chủ lực
Tin đăng ngày: 28/05/2026 - Xem: 16

Tỉnh Hà Tĩnh có tổng diện tích tự nhiên hơn 599.431 ha, trong đó nhóm đất nông nghiệp 495.852 ha, chiếm 82,72% diện tích tự nhiên; có 69 xã, phường (gồm 60 xã, 09 phường). Điều kiện tự nhiên với 3 vùng sinh thái đặc trưng (miền núi, đồng bằng, biển và ven biển), tiềm năng đất đai phong phú cho phát triển nền nông nghiệp đa dạng, đa giá trị: Đất trồng cây hàng năm: 91.806,76 ha (chiếm 18,53% diện tích đất sản xuất nông nghiệp), gồm: Đất trồng lúa 67.448,18 ha, đất trồng cây hàng năm khác 24.358,58 ha; đất trồng cây lâu năm 44.496,64 ha (chiếm 8,97% đất sản xuất nông nghiệp); đất lâm nghiệp 351.706,38 ha (chiếm 70,93% diện tích đất nông nghiệp), gồm: Đất rừng sản xuất 162.307,30 ha, đất rừng phòng hộ 115.082,64 ha, đất rừng đặc dụng 74.316,44 ha; đất nuôi trồng thủy sản 5.358,41 ha; đất chăn nuôi tập trung 201,78 ha; đất làm muối 378,49 ha; đất nông nghiệp khác 1.903,86 ha. Hà Tĩnh thuộc vùng có điều kiện khí hậu khắc nghiệt, chịu tác động lớn của biến đổi khí hậu, thiên tai xảy ra thường xuyên (bão mạnh, mưa lũ lớn, nắng nóng và hạn hán, rét đậm rét hại, sương muối, dông lốc…). Tuy vậy, điều kiện tự nhiên, khí hậu này cũng tạo nên nhiều sản phẩm nông sản đặc sản, đặc hữu nổi tiếng (như: cam chanh, cam bù, bưởi Phúc Trạch, nhung hươu, trầm hương, hồng (hồng Yên Du, hồng Thạch Đài), thủy đặc sản (tôm, mực nhảy, cá,…)

            Đối với Hà Tĩnh, nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược lâu dài và là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội. Trong các giai đoạn vừa qua, Tỉnh đã luôn dành sự quan tâm đặc biệt trong lãnh đạo, chỉ đạo, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (khóa XVI) đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TU ngày 19/5/2009, từ đây cùng với nhiều chủ trương, nghị quyết, cơ chế, chính sách đồng bộ và ưu tiên cao nguồn lực thực hiện. Trong điều kiện gặp nhiều khó khăn do thiên tai, dịch bệnh, biến động thị trường, với việc tập trung Cơ cấu lại ngành nông nghiệp, thực hiện tập trung, tích tụ ruộng đất, từng bước ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, sản xuất theo hướng nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp hữu cơ, xây dựng vùng nguyên liệu theo chuỗi giá trị… đã thúc đẩy phát triển các sản phẩm nông nghiệp hàng hóa chủ lực của tỉnh, một số sản phẩm (như lúa gạo chất lượng cao, cam chanh, bưởi Phúc Trạch, nhung hươu, thủy hải sản chế biến, chè công nghiệp,…) chuyển biến rõ về năng suất, chất lượng, thương hiệu và giá trị sản phẩm trên thị trường, góp phần quan trọng nâng cao chất lượng và giữ được ổn định tăng trưởng nông nghiệp, bình quân giai đoạn 2021-2025 đạt 2,5%/năm. Các sản phẩm chủ lực như cam, bưởi, lợn, bò, tôm tiếp tục tăng trưởng nhanh, tăng tỷ trọng giá trị sản xuất các sản phẩm chủ lực từ 46% lên 55%. Giá trị sản xuất nông nghiệp trên đơn vị diện tích tăng từ 90 triệu đồng/ha (năm 2020) lên trên 101 triệu đồng/ha năm 2025 (tăng 11 triệu đồng/ha). Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện cơ cấu lại ngành nông nghiệp, khuyến khích đầu tư phát triển theo hướng nông nghiệp sinh thái, hàng hóa quy mô lớn, hiện đại thích ứng với biến đổi khí hậu. Tuy vậy, nhìn chung tăng trưởng nông, lâm, thủy sản có xu hướng chậm lại, nhiều lĩnh vực, sản phẩm hiệu quả thấp, gặp nhiều khó khăn và kém bền vững, sản xuất nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn hiện đại, nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp hữu cơ đang dạng mô hình, nhân ra diện rộng chậm; sản xuất theo chuỗi giá trị chưa phát triển, hình thức liên kết chủ yếu là thu mua, thu gom nông sản của người dân, chưa đi từ việc xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn. Thu nhập của người nông dân và thu nhập từ nông nghiệp còn thấp.

Đẩy mạnh phát triển các mô hình phát triển các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ

Để phát huy tối đa các tiềm năng, lợi thế, đa giá trị trong phát triển sản xuất nông nghiệp, khắc phục các khó khăn, hạn chế, tiếp tục khẳng định vai trò là “trụ đỡ” của nền kinh tế tỉnh nhà, trong thời gian tới cần tập trung thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp, định hướng cụ trên các lĩnh vực của ngành. Trên lĩnh vực Trồng trọt, tiếp tục tập trung tổ chức sản xuất rõ nét theo hướng hàng hóa tập trung, chuyên canh nâng cao năng suất, chất lượng, có liên kết thu mua sản phẩm (như lúa, cam, bưởi, chè công nghiệp, dứa…). Diện tích gieo cấy lúa hằng năm khoảng 100.789 ha; sản lượng lúa đạt trên 540.739 tấn/năm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, chế biến và dự trữ trên địa bàn. Ưu tiên sử dụng bộ giống chủ lực ngắn ngày, chất lượng, năng suất, thích ứng với khí hậu; áp dụng tiến bộ kỹ thuật, quy trình thâm canh cải tiến SRI, công nghệ tưới ngập, khô xen kẽ (AWD) trong canh tác lúa thích ứng với biến đổi khí hậu…; nâng cao tỷ lệ cơ giới hóa trong các khâu gieo cấy, chăm sóc. Cải tạo, nâng cao chất lượng đất trồng lúa; thực hiện đánh giá tính chất lý, hóa học và xây dựng bản đồ nông hóa thổ nhưỡng cho vùng đất chuyên trồng lúa để làm cơ sở xây dựng quy trình sản xuất phù hợp. Phát triển các HTX, tổ hợp tác, sản xuất theo hướng hình thành liên kết với doanh nghiệp theo chuỗi giá trị tạo sản phẩm đồng nhất gắn với các cơ sở xay xát. Đối với diện tích cây ăn quả có múi (cam, bưởi): Tập trung phát triển theo hướng thâm canh, hàng hóa lớn, liên kết chuỗi tại các vùng có tiềm năng, lợi thế sinh thái, gắn với các sản phẩm đặc sản như cam chanh, cam bù, bưởi Phúc Trạch. Các địa phương rà soát diện tích trồng cam, bưởi thực tế trên địa bàn, đánh giá hiện trạng cụ thể để có phương án phát triển phù hợp, phát huy tối đa tiềm năng về năng suất, sản lượng, chất lượng, hiệu quả bền vững. Định hướng đến năm 2030, duy trì diện tích trồng cam đạt khoảng 6.870 ha, sản lượng trên 69.387 tấn; diện tích trồng bưởi đạt khoảng 3.810 ha, sản lượng trên 38.734 tấn. Tiếp tục du nhập, chọn tạo các giống cây ăn quả có năng suất, chất lượng cao, khả năng chống chịu sâu bệnh và thích ứng với biến đổi khí hậu; thu hút đầu tư xây dựng trung tâm nghiên cứu giống nhằm chọn tạo, phục tráng và khai thác nguồn gen đặc sản của tỉnh. Hướng dẫn người sản xuất áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật theo quy trình canh tác của từng loại cây trồng để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Tổ chức lại hoạt động của các doanh nghiệp, đầu mối thu mua theo hướng xây dựng vùng nguyên liệu liên kết gắn với tiêu thụ sản phẩm; chú trọng xây dựng, quản lý và phát triển các sản phẩm chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu hàng hóa và sản phẩm OCOP nhằm nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của sản phẩm.

        Tiếp tục nhân rộng các mô hình sản xuất bằng các giống mới có năng suất, chất lượng cao

Về sản xuất rau, củ, quả các loại: đẩy mạnh tổ chức lại sản xuất ở các vùng tập trung, có truyền thống như: Thạch Lạc, Đông Kinh, Tùng Lộc… Chuyển giao kỹ thuật áp dụng quy trình sản xuất thâm canh, sử dụng phân bón hữu cơ, sử dụng thuốc BVTV an toàn hiệu quả, quản lý dịch hại tổng hợp IPM, quản lý sức khoẻ cây trồng tổng hợp – IPHM,… nhằm tăng năng suất, chất lượng, mẫu mã sản phẩm và đạt các tiêu chuẩn về ATTP, VietGAP, sản xuất hữu cơ, từng bước xây dựng thương hiệu, kết nối với thị trường, sản xuất “theo đơn đặt hàng” ổn định, hiệu quả. Định hướng đến năm 2030 duy trì diện tích sản xuất hằng năm 13.780 ha, sản lượng trên 103.350 tấn. Đối với cây Dứa: trên cơ sở định hướng sản xuất và chế biến dứa theo chuỗi giá trị của Công ty DOVECO, Công ty Cổ phần Nafoods, tiếp tục rà soát quỹ đất, định hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng, hình thành các vùng chuyên canh sản xuất dứa, phấn đấu đạt quy mô trên 3.000 ha vào năm 2030. Giống dứa đưa vào sản xuất phải đạt tiêu chuẩn quốc gia TCVN 9062:2013. Tập trung phát triển tại các vùng có điều kiện đất đai phù hợp, nhân lực và nguồn lực đáp ứng; chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất trồng cây lâu năm và chuyển đổi mục đích sử dụng đất trên đất lâm nghiệp theo đúng quy định. Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong quá trình tổ chức sản xuất liên kết, tiêu thụ sản phẩm  

Trên lĩnh vực Chăn nuôi, cần tiếp tục rà soát, điều chỉnh quy hoạch chung của xã để bố trí quỹ đất chăn nuôi tập trung, phát triển theo hướng trang trại, công nghiệp, bền vững, nâng tỷ lệ chăn nuôi trang trại trên 75%. Đối với quy mô nhỏ: khuyến khích đưa ra khỏi khu dân cư hoặc chuyển đổi đối tượng nuôi phù hợp nhu cầu thị trường; tại những vùng chăn nuôi mật độ cao gắn với sinh kế, tập quán thì từng bước chuyển đổi theo hướng hữu cơ, an toàn sinh học, chăn nuôi không tiếp xúc. Khuyến khích các doanh nghiệp, trang trại chủ động nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ trong chế biến thức ăn chăn nuôi; xây dựng các quy trình chế biến và công thức phối trộn thức ăn phù hợp từ nguồn nguyên liệu sẵn có. Hằng năm, duy trì tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất chăn nuôi đạt trên 3%; cơ cấu giá trị chăn nuôi trong nội ngành nông nghiệp chiếm trên 53%; tỷ trọng giá trị các vật nuôi chủ lực. Trong đó, đối với giống Hươu sao cần tập trung phát triển mở rộng các xã, vùng có điều kiện chăn nuôi hươu trên địa bàn tỉnh; phấn đấu đến năm 2030 nâng tổng quy mô đàn hươu đạt trên 53.000 con, sản lượng nhung hươu đạt trên 29 tấn. Nghiên cứu, hoàn thiện cơ sở khoa học và pháp lý để công nhận hươu sao là giống vật nuôi, tạo nền tảng cho quản lý và phát triển ngành hàng. Bảo tồn và phát triển nguồn gen hươu sao Hà Tĩnh, xây dựng và bảo vệ thương hiệu “Hươu sao, nhung hươu Hương Sơn”; Thúc đẩy ứng dụng số hóa trong quản lý đàn, truy xuất nguồn gốc và tiêu thụ sản phẩm. Tăng cường nghiên cứu giá trị dược liệu của nhung hươu để phát triển các sản phẩm chế biến sâu; từng bước hình thành chuỗi từ sản xuất – chế biến – tiêu thụ.

         Quan tâm đến chất lượng, nguồn gốc giống cây trồng trong sản xuất

Đối với lĩnh vực Thủy sản: hằng năm phấn đấu duy trì tổng sản lượng thuỷ sản đạt 63.000 tấn (sản lượng khai thác đạt 44.000 tấn, nuôi trồng đạt 19.000 tấn). Tiếp tục tập trung thực hiện nghiêm túc các nhiệm vụ, giải pháp về phòng chống khai thác (IUU) góp phần sớm gỡ thẻ vàng. Chuyển đổi cơ cấu đội tàu, nghề đánh bắt, tổ chức sản xuất theo hướng hiện đại, hiệu quả gắn với khai thác có trách nhiệm, bảo vệ môi trường, nguồn lợi thủy sản. Nâng cao năng lực đội tàu khai thác vùng lộng, vùng khơi; giảm dần và tiến tới chấm dứt các loại nghề khai thác ít thân thiện với môi trường, có tính tận thu. Duy trì phát triển các đối tượng nuôi nước mặn, lợ có ưu thế và hiệu quả như tôm thẻ chân trắng, tôm sú… theo hình thức bán thâm canh, thâm canh, sản xuất hàng hóa; giảm dần các mô hình nuôi nhỏ lẽ, manh mún hiệu quả thấp. Phát triển đa dạng loại hình nuôi thủy sản nước ngọt như: ao hồ nhỏ, mặt nước lớn, lồng bè…; phát triển hình thức nuôi trang trại, gia trại tổng hợp, đa dang hóa đối tượng nuôi nhất là các đối tượng có giá trị kinh tế cao như: lươn, cá lóc, cá leo, cá lăng, ếch, tôm càng xanh, ốc bươu…; thu hút các dự án nuôi cá nước ngọt theo hướng hàng hoá, hình thành và phát triển một số vùng nuôi cá tập trung theo hướng sản xuất hàng hoá, phát triển các tổ hợp, hợp tác xã nuôi thuỷ sản nước ngọt. Nâng cấp các trại giống hiện có, từng bước chủ động sản xuất giống các đối tượng nuôi truyền thống và giống tôm đáp ứng nhu cầu của người nuôi trong tỉnh.  

Trên lĩnh vực Lâm nghiệp, phấn đấu đưa tổng giá trị sản xuất lâm nghiệp tăng trung bình mỗi năm 10%; tỷ lệ che phủ rừng ổn định 52%. Hàng năm, trồng rừng tập trung từ khoảng 9.000 ha, trong đó rừng phòng hộ, đặc dụng khoảng 400ha. Khoanh nuôi, nuôi dưỡng, làm giàu, phục hồi rừng tự nhiên bằng các loài cây trồng bản địa có khả năng phòng hộ cao. Chú trọng công tác chăm sóc sau khi trồng theo đúng quy trình kỹ thuật được quy định Đối với rừng phòng hộ phải lựa chọn các loài cây bản địa thích ứng với từng vùng sinh thái và biến đổi khí hậu, có tính bền vững. Dự kiến đến năm 2030 hàng năm có khoảng 30.000 ha rừng trồng được chăm sóc. Đẩy mạnh khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng với những diện tích có cây gỗ tái sinh đảm bảo đúng đối tượng theo quy định, tăng diện tích rừng được cấp chứng chỉ theo các tiêu chuẩn quốc tế./.

                                                                                    Văn Thắng

 

 

Từ khóa:

Hoạt động khuyến nông khác:

28/5/2026 - Khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế, đa giá trị trong phát triển sản xuất nông nghiệp Hà Tĩnh trên các lĩnh vực, sản phẩm chủ lực
22/5/2026 - Đồng Lộc: Triển vọng từ mô hình tre Mạnh Tông lấy măng
22/5/2026 - Nhân rộng mô hình cam hữu cơ, mở hướng phát triển bền vững cho vùng cam Hà Tĩnh
21/5/2026 - Liên kết trồng dứa với doanh nghiệp: Hướng đi triển vọng trên vùng đồi Thượng Đức
21/5/2026 - Vượt khó giữ rừng Vườn Quốc gia Vũ Quang – Vườn Di sản ASEAN
18/5/2026 - Mô hình trồng thử nghiệm bí xanh hữu cơ – hướng phát triển nông nghiệp sạch, an toàn và bền vững
18/5/2026 - Khẩn trương làm đất, “chạy đua” thời vụ sản xuất hè thu
18/5/2026 - Canh tác lúa giảm phát thải mở hướng sản xuất bền vững
13/5/2026 - Bỏ phố về quê, người phụ nữ Cẩm Bình thành công với mô hình nuôi lươn không bùn
11/5/2026 - Hiệu quả bước đầu từ mô hình trồng đậu tương rau tại xã Sơn Giang
11/5/2026 - Từ đất khó đến mô hình kinh tế tổng hợp hiệu quả tại Đan Hải
11/5/2026 - Mô hình phát triển kinh tế đa tầng theo hướng nông nghiệp tuần hoàn – hướng đi bền vững trong sản xuất đa cây, đa con
8/5/2026 - Hiệu quả rõ nét từ mô hình lúa cải tiến SRI
6/5/2026 - Người nuôi tôm Hà Tĩnh siết chặt quản lý ao nuôi trong thời điểm giao mùa
29/4/2026 - Trồng thử nghiệm ớt “siêu cay” tại xã Toàn Lưu
 
  VIDEO CLIPS  
TIN Tha giong mo hinh nuoi tom cang xanh dat tieu chuan VietGAP 23 05 26 HD
Nuôi ong
TIN So Nong nghiep va Moi truong Ha Tinh to chuc kiem tra cong tac phong chong han han 14 4 26 HD
Một số biện pháp chống hạn cho cây ăn quả có múi
Khẩn trương triển khai các biện pháp chống hạn cho cây trồng
Hiệu quả bước đầu từ mô hình dưa chuột liên kết tại xã Hương Xuân
Trồng dâu nuôi tằm cho lợi nhuận cao ở xã Đức Thịnh
Sơn Giang phát huy thế mạnh nghề chăn nuôi hươu
Hiệu quả từ mô hình trồng rừng keo tam bội thâm canh
Thu gom vỏ chai bao thuốc BVTV – Nổ lực từ các địa phương
 
  VĂN BẢN MỚI  

NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ LẦN THỨ NĂM BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHOÁ XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

QUY ĐỊNH QUẢN LÝ, SỬ DỤNG KINH PHÍ SỰ NGHIỆP TỪ NGUỒN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC THỰC HIỆN HOẠT ĐỘNG KHUYẾN NÔNG

Quy định quản lý, sử dụng kinh phí sự nghiệp từ nguồn ngân sách nhà nước thực hiện hoạt động khuyến nông

NGHỊ QUYẾT CỦA BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ TỈNH Về tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Đề án “Thí điểm xây dựng tỉnh Hà Tĩnh đạt chuẩn nông thôn mới, giai đoạn 2021 – 2025”

Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 18 – NQ/TW Hội nghị lần thứ sáu, Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII “Một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”

Chỉ thị của BTV Tỉnh ủy về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp năm 2018

Phòng trừ sâu bệnh hại lúa từ nay đến cuối vụ xuân năm 2022

KẾ HOẠCH: Khuyến nông năm 2021

V/v thực hiện sắp xếp, kiện toàn theo Kế hoạch số 483/KH-UBND ngày 14/12/2020 của UBND tỉnh

Về Khuyến nông

 
THƯ VIỆN ẢNH
THỐNG KÊ TRUY CẬP
Đang truy cập 14
Máy chủ tìm kiếm 4
Khách viếng thăm 10
Hôm nay:  10
Tất cả:  682,349
  FANPAGE FACEBOOK  
 

Trung tâm Khuyến nông Hà Tĩnh
Địa chỉ: Số 150 đường Trần Phú, TP Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh
Điện thoại: 0393 856739/ Fax: 0393 856737 - Hotline: 0914.886.618
Email: khuyennonghatinh@gmail.com - Website: http://trungtamkhuyennonghatinh.com.vn